VNS

Thursday
Nov 20th
Trang chủ arrow Nghiên cứu
Nghiên cứu
HỌC NGỮ PHÁP BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN PDF In E-mail

 

Lưu Tuấn Anh, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Diễm Phương,Trần Bảo Thanh Trúc, Ngô Hải Uyên, Trương Nguyễn Hoàng Yến

Một trong những điều khó nhất với một học viên nước ngoài học tiếng Việt là vận dụng chính xác những điều được học, mà cụ thể là ngữ pháp vào một ngữ cảnh nhất định. Về phía giáo viên, giải thích một chủ điểm ngữ pháp khi giữa sinh viên và giáo viên không có bất kỳ một ngôn ngữ trung gian nào là điều không dễ dàng. Trong một số trường hợp đơn giản, giáo viên có thể sử dụng nhiều ví dụ để sinh viên có thể tự lĩnh hội. Tuy nhiên, phương pháp này khó có thể áp dụng cho viêc giảng dạy các hư từ. Hơn nữa, nhìn chung, học viên thuộc trình độ sơ cấp, với lượng từ vựng ít ỏi của mình, khó có thể hiểu hết các sắc thái biểu cảm trong các ví dụ được đưa ra. Điều này dẫn đến tình trạng học viên sử dụng ngữ pháp sai ngữ cảnh, sử dụng đúng nhưng không biểu cảm, không hiểu tại sao phải sử dụng hoặc từ chối không sử dụng điểm ngữ pháp đó.

Học ngữ pháp bằng phương pháp trực quan qua các đoạn phim ngắn với các tình huống sử dụng cụ thể là một điều không mới trong việc giảng dạy ngoại ngữ. Với mục đích hỗ trợ cho giáo trình tiếng Việt 1, 2 của khoa Việt Nam học, nhóm thực hiện tiến hành làm một số đoạn phim ngắn với tình huống thực tế, trong đó sử dụng các điểm ngữ pháp trong giáo trình 1, 2 theo thứ tự trình bày trong giáo trình, đồng thời so sánh những ngữ pháp có những điểm tương đồng hoặc những điểm dễ nhầm lẫn trong cách sử dụng. Với phương pháp này, nhóm thực hiện hy vọng giúp ích phần nào cho học viên trong việc vận dụng ngữ pháp nhanh, hợp tình huống, linh hoạt cũng như diễn đạt biểu cảm hơn trong lời nói (trường hợp các hư từ).

Đọc tiếp...
 
TẠO KẾT ĐỀ HÀM ẨN TỪ QUY TẮC TAM ĐOẠN LUẬN PDF In E-mail

Huỳnh Công Hiển 

Phép suy luận theo lô-gích truyền thống được thực hiện hoặc là theo lối suy luận trực tiếp từ một phán đoán đơn, hoặc là theo lối suy luận gián tiếp từ quan hệ của hai phán đoán đã có. Hai phán đoán này có thể là phán đoán đơn và cũng có thể là phán đoán phức. Nếu phép suy luận trực tiếp có cơ sở xuất phát từ quan hệ lô-gích nhiều chiều trong hình vuông lô-gích thì phép suy luận gián tiếp thì lại tuân thủ chặt chẽ các qui tắc kết hợp giữa ba phán đoán bộ phận tạo thành. Chính vì vậy, phép suy luận gián tiếp loại này còn gọi là tam đoạn luận.

Cập nhật ( 25/06/2008 )
Đọc tiếp...
 
“THẾ”/“VẬY” DƯỚI GÓC ĐỘ THỰC HÀNH TIẾNG PDF In E-mail

Lê Thị Minh Hằng 

Đại từ nói chung và THẾ/VẬY nói riêng, là một nhóm từ không lớn xét về mặt số lượng, nhưng chúng thực hiện chức năng quan trọng đặc biệt, đó là chức năng hồi chỉ những điều đã được nói đến trong phát ngôn trước đó cũng như trực chỉ những sự kiện hay sự việc có thực trong thực tế. Vì lẽ đó, chúng được sử dụng một cách thường xuyên, với tần số cao hàng đầu.

Trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, đại từ là một hệ thống tương đối khó nắm bắt nhất đối với người nước ngoài, đặc biệt khi cần sử dụng để liên kết câu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ miêu tả THẾ/VẬY  dưới hai góc độ: THẾ/VẬY dùng để hồi chỉ cái đã đề cập trước đó trong văn bản và THẾ /VẬY dùng để chỉ cái đã biết trong thực tế. Thông qua việc miêu tả, chúng tôi cũng  nhắm đến việc phân biệt THẾ/ VẬY với những đại từ hồi chỉ khác.

Chúng tôi hy vọng rằng những điều trình bày trong bài viết sẽ cung cấp cho sinh viên học tiếng Việt những hiểu biết nhất định để viết đúng một câu, một đoạn câu tiếng Việt và xa hơn nữa là giúp họ viết được những văn bản hoàn chỉnh.

Đọc tiếp...
 
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY NGỮ PHÁP ... PDF In E-mail

... GIAO TIẾP TRONG VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ

Nguyễn Thị Thanh Trúc - Lưu Tuấn Anh 

Phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp là một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm trong việc dạy ngoại ngữ. Tiêu chí của phương pháp là phát triển năng lực giao tiếp, đẩy mạnh các hoạt động thực hành tiếng trong lớp học gần với thực tế mà các tình huống giao tiếp ấy có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Điểm khác nhau nổi bật nhất của phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp so với các phương pháp dạy tiếng truyền thống khác là lấy vai trò người học làm trung tâm. Người học đóng vai trò chủ động, tự do sáng tạo trong các hoạt động giao tiếp, người học cùng chia sẽ nhiệm vụ dạy và học với người dạy. Người dạy có trách nhiệm hỗ trợ khi cần thiết.

Để vận dụng cách dạy này được linh họat, phù hợp với từng đối tượng và từng lớp học, người dạy cần chuẩn bị bài giảng kỹ, lựa chọn tình huống giao tiếp thiết thực trong đời sống theo ba nguyên tắc: hình thức, ý nghĩa và  hữu dụng. Đồng thời người dạy cần áp dụng thành thạo cả bốn kỹ năng: Nghe - Nói - Đọc - Viết trong việc dạy ngoại ngữ.  

 

Abstract:

Apply communicative grammar method in teaching of the second foreign languages.

The method for teaching communicative grammar is one of methods with many advantages in teaching of foreign language. The purpose of this method is to develop communicative competence, stepping up practical activities in class that are similar to realistic situations that occur in everyday life. The most evident difference with this method of teaching communication as compare to other traditional methods is the centre role of the students. The students have an active and creative role in each communication activity, and the students share the responsibility of teaching and learning with the teacher. The teacher has the responsibility to assist when needed.

To apply this method flexible and suitable for the students and for each class or level, the teacher must carefully prepare each lesson, choosing communication situations that are practical in life, according to three principles: form, meaning, useful. At the same time, the teacher must apply fluently all four skills: listening, speaking, reading and writing in teaching of foreign language.

 

Cập nhật ( 23/06/2008 )
Đọc tiếp...
 
DẠY TỪ ĐỒNG ÂM QUA ... PDF In E-mail

... MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN VẦN DÂN GIAN

 

Hiện tượng đồng âm có mặt trong mọi thứ tiếng. Trong những ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Hán,… thì hiện tượng này có phần phổ biến hơn so với các ngôn ngữ Ấn – Âu.

Trong “Từ điển đồng âm tiếng Việt”, các tác giả đã thu thập và giải thích khoảng 7.000 đơn vị từ vựng đồng âm (bao gồm từ và yếu tố tạo từ).

Như vậy, từ đồng âm chiếm một số lượng không nhỏ trong kho tàng từ vựng tiếng Việt. Trong việc dạy tiếng Việt, dạy từ đồng âm giữ một vai trò khá quan trọng. Thực tế, việc dạy từ đông âm có mặt từ những bài dạy ở trình độ A. Càng lên cao, việc dạy từ đồng âm càng có tần số xuất hiện nhiều hơn.

Có nhiều cách dạy từ đồng âm.

Bài viết này là một gợi ý về nguồn từ đồng âm mà người giảng dạy có thể khai thác để làm cho bài dạy thêm hấp dẫn, giảm độ khó khăn đối với người học.

I.  TỪ ĐỒNG ÂM TRONG CA DAO, DÂN CA

II. TỪ ĐỒNG ÂM TRONG CÂU ĐỐI

III. TỪ ĐỒNG ÂM TRONG CÂU ĐỐ

Khai thác sự độc đáo của thú chơi chữ, những cách thử thách trí thông minh và khả năng sử dụng từ đồng nghĩa linh hoạt sẽ không chỉ giúp người học cảm thấy thú vị, tiếp nhận ngôn ngữ tiếng Việt dễ dàng hơn mà còn giúp người học hiểu thêm về văn học, văn hóa của người Việt.   

 

 
NGHĨA CỦA “MỚI” PDF In E-mail

Trong bài viết này, chúng tôi phân tích ngữ nghĩa của từ "mới" dưới góc độ nhận thức. Chúng tôi cho rằng "mới" là một ý niệm liên quan đến nhận định của người nói về sự vật, dựa trên trục quy chiếu (thời gian) của người nói. Theo đó, thuộc tính "mới" của sự vật chỉ là những dấu hiệu hình thức và không mang tính tất yếu.

Cập nhật ( 24/06/2008 )
Đọc tiếp...
 
Vài nét về các giáo trình dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ PDF In E-mail

ThS. Trần Thị Minh Giới, ThS. Đinh Lư Giang

Trong việc dạy và học ngoại ngữ nói chung, giáo trình và nội dung, phương pháp được thể hiện qua giáo trình học đóng vai trò rất quan trọng. Bài viết sẽ thực hiện một nghiên cứu có tính chất thống kê và tổng kết việc biên soạn, nội dung, phương pháp, cấp độ, cũng như những điểm mạnh và yếu của hệ thống giáo trình dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.

 
VÀI NÉT VỀ CÁC GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ PDF In E-mail

ThS. Trần Thị Minh Giới, ThS. Đinh Lư Giang

Trong việc dạy và học ngoại ngữ nói chung, giáo trình và nội dung, phương pháp được thể hiện qua giáo trình học đóng vai trò rất quan trọng. Bài viết sẽ thực hiện một nghiên cứu có tính chất thống kê và tổng kết việc biên soạn, nội dung, phương pháp, cấp độ, cũng như những điểm mạnh và yếu của hệ thống giáo trình dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Cập nhật ( 23/06/2008 )
Đọc tiếp...
 
Tìm hiểu ngữ nghĩa, ngữ dụng của MÀ PDF In E-mail

 

ThS. Nguyễn Thị Hoàng Yến

Mà là một trong những từ có tần số xuất hiện cao trong tiếng Việt, đặc biệt là trong khẩu ngữ. Hoạt động của "mà" trong câu hay trong quá trình diễn ngôn hội thoại khá đa dạng và phức tạp. Ở những vị trí và các kết hợp khác nhau, chuyển tải những thuộc tính ngữ pháp, ngữ nghĩa (nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ dụng) rất khác biệt. Chính vì thế, về phía người dạy, có nhiều trường hợp “khó giải thích cho suông sẻ”, về phía người học (với đối tượng là học viên nước ngoài) thì rất khó hiểu đúng, dùng đúng và dùng thành thạo.

Vì lý do đó, trên bình diện dạy tiếng, trong khuôn khổ một bài viết ngắn, người viết sẽ khảo sát và phân tích những thuộc tính cú pháp - ngữ nghĩa tương ứng với một số vị trí có mà xuất hiện trong câu hay trong phát ngôn, Đặc biệt, bài viết này sẽ chú trọng việc so sánh, đối chiếu mà với một số từ có những ý nghĩa cốt lõi (core meanings) hay chức năng cú pháp tương tự nhưng có cách dùng khác nhau trong từng điều kiện hành chức cụ thể mà học viên nước ngoài hay nhầm lẫn, để chỉ ra sự khác biệt về sắc thái ngữ nghĩa cũng như về mặt ngữ dụng, nhằm giúp học viên hiểu rõ và sử dụng chuẩn xác hơn đơn vị từ vựng này.

Cụ thể, bài viết sẽ khảo sát, phân tich, tìm hiểu những trường hợp sau:

1.     mà, liên từ, đối chiếu với nhưng, nhưng mà, còn

2.     mà, trợ từ cuối câu, đối chiếu với kia, kia mà, chứ.

3.     mà trong những kết cấu như không phải … mà là…, mà sao..

4.     mà chỉ mục đích, đối chiếu với để, để mà

5.     mà chỉ quan hệ nguyên nhân-kết quả, đối chiếu với nên, cho nên

 

 
TÌM HIỂU MỘT SÔ NÉT NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG CỦA "MÀ" PDF In E-mail
Mà là một trong những từ có tần số xuất hiện cao trong tiếng Việt, đặc biệt là trong khẩu ngữ. Hoạt động của "mà" trong câu hay trong quá trình diễn ngôn hội thoại khá đa dạng và phức tạp. Ở những vị trí và các kết hợp khác nhau, chuyển tải những thuộc tính ngữ pháp, ngữ nghĩa (nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ dụng) rất khác biệt. Chính vì thế, về phía người dạy, có nhiều trường hợp “khó giải thích cho suông sẻ”, về phía người học (với đối tượng là học viên nước ngoài) thì rất khó hiểu đúng, dùng đúng và dùng thành thạo.

Vì lý do đó, trên bình diện dạy tiếng, trong khuôn khổ một bài viết ngắn, người viết sẽ khảo sát và phân tích những thuộc tính cú pháp - ngữ nghĩa tương ứng với một số vị trí có mà xuất hiện trong câu hay trong phát ngôn, Đặc biệt, bài viết này sẽ chú trọng việc so sánh, đối chiếu mà với một số từ có những ý nghĩa cốt lõi (core meanings) hay chức năng cú pháp tương tự nhưng có cách dùng khác nhau trong từng điều kiện hành chức cụ thể mà học viên nước ngoài hay nhầm lẫn, để chỉ ra sự khác biệt về sắc thái ngữ nghĩa cũng như về mặt ngữ dụng, nhằm giúp học viên hiểu rõ và sử dụng chuẩn xác hơn đơn vị từ vựng này.

Cụ thể, bài viết sẽ khảo sát, phân tich, tìm hiểu những trường hợp sau:

1.     mà, liên từ, đối chiếu với nhưng, nhưng mà, còn

2.     mà, trợ từ cuối câu, đối chiếu với kia, kia mà, chứ.

3.     mà trong những kết cấu như không phải … mà là…, mà sao..

4.     mà chỉ mục đích, đối chiếu với để, để mà

5.     mà chỉ quan hệ nguyên nhân-kết quả, đối chiếu với nên, cho nên

Cập nhật ( 23/06/2008 )
Đọc tiếp...
 
<< Bắt đầu < Trước 1 2 Tiếp > Cuối >>

Kết quả 1 - 15 / 27

Nổi bật

Liên kết quảng cáo

Syndicate

VNS News

Ai đang trực tuyến

Chúng ta có 2 thành viên trực tuyến
  • 07PS010
  • 07PS002

Tìm kiếm với Google

Google

Giáo trình VSL 1

 

Xem chi tiết tại đây .

Giáo trình VSL 2

Xem chi tiết tại đây .

Giáo trình VSL 3

Xem chi tiết tại đây .

Giáo trình VSL 4

Xem chi tiết tại đây .

 

TĐ NP TV CB

Xem chi tiết tại đây.