VNS

Thursday
Nov 20th
Home arrow Researches
Researches
Một quan điểm về phạm trù câu điều kiện tiếng Việt PDF Print E-mail

... - Ứng dụng vào việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ.

ThS. Nguyễn Khánh Hà

 

Câu điều kiện là một đối tượng nghiên cứu quan trọng trong ngôn ngữ học thế giới, nhưng trong tiếng Việt, loại câu này mới chỉ được nghiên cứu chủ yếu ở bình diện kết học. Áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, với những tư tưởng căn bản như lý thuyết điển mẫu (prototype model), lý thuyết không gian tinh thần (mental spaces) và lý thuyết ngữ pháp kết cấu (construction grammar), chúng tôi giới thiệu một quan điểm mới so với các nhà Việt ngữ học đi trước về phạm trù câu điều kiện tiếng Việt. Quan điểm này tập trung vào ngữ nghĩa câu theo hướng tri nhận, tìm hiểu quan hệ tương hỗ giữa ngữ nghĩa và hình thức câu, từ đó đưa ra kiến giải về những khía cạnh cụ thể như: danh sách các thành viên thuộc phạm trù, vị trí phân bố của các thành viên trong phạm trù, quan hệ giữa thành viên điển mẫu và thành viên phi điển mẫu. Quan điểm mới này có thể ứng dụng có hiệu quả vào việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ. Bài báo đưa ra một số bình luận và đề xuất về khả năng ứng dụng đó.

 

 
Phó từ Đã nhìn qua lăng kính của Thức, Thể và Thời PDF Print E-mail

Đối chiếu với tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Hoa

 

Danh Thành DO-HURINVILLE

Bài tham luận này có ba phần:

●  Trong phần đầu, tôi sẽ bàn lại về vấn đề thời gian. Tuy là một khái niệm phổ biến, nhưng cách biểu đạt về thời gian bằng những phương tiện ngôn ngữ còn tùy thuộc vào bản chất của từng ngôn ngữ (ngôn ngữ biến hình, ngôn ngữ đơn lập hay ngôn ngữ chắp dính, v.v. ). Là ngôn ngữ đơn lập, tiếng Việt hay tiếng Hoa dùng chủ yếu những khung đề thời gian đặt ở đầu câu như trước đây, hồi ấy, lúc nẫy, năm 1900, bây giờ, hiện nay, trong lúc này, ngày mai, sau này, trong tương lai, v. v. để định vị sự tình trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong tiếng Pháp, tiếng Anh, v. v. là những ngôn ngữ biến hình thì người ta lại dùng những thì (tenses) để diễn đạt thời gian.

 

Read more...
 
Nghĩa của “mới” PDF Print E-mail

TS. Nguyễn Vân Phổ

Trong bài viết này tác giả phân tích ngữ nghĩa của từ "mới" dưới góc độ nhận thức. Tác giả cho rằng "mới" là một ý niệm liên quan đến nhận định của người nói về sự vật, dựa trên trục quy chiếu (thời gian) của người nói. Theo đó, những dấu hiệu trên trục "cũ-mới" chỉ là những dấu hiệu hình thức và không mang tính tất yếu.

Cũng trên cơ sở đó, tác giả lập luận rằng bản chất ngữ nghĩa của "mới" tính từ và "mới" vị từ tình thái (phó từ) là thống nhất, nghĩa là cùng dựa trên trục quy chiếu về thời gian của người nói. Tuy nhiên, thuộc tính "mới" của một sự tình khác với thuộc tính "mới" của sự vật, dẫn đến sự khác biệt về vị trí và khả năng kết hợp của từ "mới".

Tác giả cũng phân tích rằng những ấn tượng về tính chất "sớm", "ít", "muộn", và cả quan hệ mang tính "điều kiện" mà từ "mới" tạo ra chung quy có cơ sở ở sự phát triển nhận thức, nghĩa là những ý niệm đó chỉ là những ý niệm thứ sinh; và được thể hiện bằng các dấu hiệu ngữ pháp.

Last Updated ( Wednesday, 18 June 2008 )
 
Dạy và học tiếng Việt ở Đài Loan - Hiện trạng và tương lai PDF Print E-mail

Thích Giải Hiền 

Thập niên 80 của thế kỷ trước Đài Loan bác bỏ lệnh giới nghiêm đối với Trung Quốc đại lục mở ra thời kỳ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Nguồn vốn đầu tư từ Đài Loan và Hồng Kông đổ vào Trung Quốc đã giúp cho công cuộc đổi mới ở Trung Quốc đạt được những thành quả đáng kể.

Last Updated ( Wednesday, 18 June 2008 )
Read more...
 
Dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ PDF Print E-mail

... từ góc nhìn của phân tích tương phản và đặc trưng học ngôn ngữ

TS Nguyễn Văn Chiến

 

1. Việc dạy tiếng Việt, như bất kỳ một ngoại ngữ nào, cũng đụng chạm tới hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn giảng dạy một ngôn ngữ cụ thể: dạy cái gì? Dạy như thế nào? Dạy ai? Ai dạy? Khi nào thì dạy cái cần phải dạy? Dạy ở đâu, trong hoàn cảnh nào?... 

Read more...
 
Lỗi ngữ pháp của người nước ngoài học tiếng Việt PDF Print E-mail

PGS. TS.  Dư Ngọc Ngân

Bài viết gồm hai phần: (1) Vấn đề phân tích lỗi của người học ngoại ngữ, (2) Lỗi ngữ pháp thường thấy của người nước ngoài học tiếng Việt. Trong phần (1), bài viết nói về ý nghĩa của việc phân tích lỗi của người học trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai về mặt lý luận và thực tiễn; đồng thời có liên hệ với một vài thành tựu về lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, chẳng hạn lý thuyết về ngôn ngữ trung gian (interlanguage) của L. Selinker (1972), lý thuyết về phân tích lỗi của J. C. Richards (1985) … Trong phần (2), trên cơ  sở  ngữ  liệu khảo sát là 530 bài viết của học viên nước ngoài  học tiếng Việt ở  Trường ĐH Sư  phạm TP HCM, bài viết trình bày những lỗi ngữ pháp thường thấy của  người nước ngoài học tiếng Việt như lvề trật tự các thành tố trong các kết cấu cú pháp, lỗi về kết hợp từ ngữ, lỗi về dùng kết từ … Cũng trong phần (2), bài viết bước đầu vận dụng những kết quả nghiên cứu về lý thuyết phân tích lỗi của một số  nhà  ngôn ngữ  học trên thế  giới để  phân tích nguyên nhân của những lỗi sai này như sự chuyển di từ ngôn ngữ nguồn, sự khái quát thái quá những qui tắc của ngôn ngữ đích, những chiến lược học tập, chiến lược giao tiếp của người học …

 
"Thế" và "vậy" dưới góc độ thực hành tiếng PDF Print E-mail

TS. Lê Thị Minh Hằng

Đại từ nói chung và THẾ/VẬY nói riêng, tuy là một nhóm từ không lớn xét về mặt số lượng, nhưng chúng thực hiện chức năng quan trọng đặc biệt, đó là chức năng hồi chỉ những điều đã được nói đến trong phát ngôn trước đó cũng như hồi chỉ những sự việc có thực trong thực tế . Vì lẽ đó, chúng được sử dụng một cách thường xuyên, với tần số sử dụng chiếm vị trí hàng đầu.

Trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, đại từ là một hệ thống tương đối khó nắm bắt nhất đối với người nước ngoài, đặc biệt khi cần sử dụng để liên kết câu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ miêu tả THẾ/VẬY  dưới hai góc độ: THẾ/VẬY dùng để hồi chỉ cái đã đề cập trước đó trong văn bản và THẾ /VẬY dùng để chỉ cái đã biết trong thực tế. Thông qua việc miêu tả, chúng tôi cũng  nhắm đến việc phân biệt THẾ/ VẬY với những đại từ hồi chỉ khác.

Chúng tôi hy vọng rằng những điều trình bày trong bài viết sẽ cung cấp cho sinh viên học tiếng Việt những hiểu biết nhất định để viết đúng một câu, một đoạn câu tiếng Việt và xa hơn nữa là tạo tiền đề cho họ viết được những văn bản tương đối hoàn chỉnh.

Last Updated ( Wednesday, 18 June 2008 )
 
"THẾ" VÀ "VẬY" DƯỚI GÓC ĐỘ THỰC HÀNH TIẾNG PDF Print E-mail

TS. Lê Thị Minh Hằng

Đại từ nói chung và THẾ/VẬY nói riêng, tuy là một nhóm từ không lớn xét về mặt số lượng, nhưng chúng thực hiện chức năng quan trọng đặc biệt, đó là chức năng hồi chỉ những điều đã được nói đến trong phát ngôn trước đó cũng như hồi chỉ những sự việc có thực trong thực tế . Vì lẽ đó, chúng được sử dụng một cách thường xuyên, với tần số sử dụng chiếm vị trí hàng đầu.

Trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, đại từ là một hệ thống tương đối khó nắm bắt nhất đối với người nước ngoài, đặc biệt khi cần sử dụng để liên kết câu. Trong bài viết này chúng tôi sẽ miêu tả THẾ/VẬY  dưới hai góc độ: THẾ/VẬY dùng để hồi chỉ cái đã đề cập trước đó trong văn bản và THẾ /VẬY dùng để chỉ cái đã biết trong thực tế. Thông qua việc miêu tả, chúng tôi cũng  nhắm đến việc phân biệt THẾ/ VẬY với những đại từ hồi chỉ khác.

Chúng tôi hy vọng rằng những điều trình bày trong bài viết sẽ cung cấp cho sinh viên học tiếng Việt những hiểu biết nhất định để viết đúng một câu, một đoạn câu tiếng Việt và xa hơn nữa là tạo tiền đề cho họ viết được những văn bản tương đối hoàn chỉnh.

Last Updated ( Monday, 23 June 2008 )
Read more...
 
Phương tiện đánh dấu sự phân chia ĐỀ - THUYẾT PDF Print E-mail

... trong câu tiếng Việt (thì, là, mà)

 

Danh Thành DO-HURINVILLE, Thị Ngoan NINH

 

I. Có hai quan điểm khác nhau về cách cấu tạo câu trong tiếng Việt. Theo quan điểm thứ nhất thì câu được phân chia ra làm hai thành phần : Chủ ngữ và Vị ngữ. Theo quan điểm thứ hai thì câu được chia ra thành Đề và Thuyết.

Read more...
 
Ngữ cảnh và việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ PDF Print E-mail

PGS. TS Trịnh Sâm

 

Bài viết này vận dụng hai khái niệm: ngữ cảnh văn hóa (NCVH) và ngữ cảnh ngôn ngữ (NCNN) để xem xét việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho học viên đã học xong chương trình tiếng Việt căn bản.

NCVH là toàn bộ hoàn cảnh bên ngoài ngôn ngữ, có tính chất ngoại chiếu như đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán chi phối cách ứng xử ngôn ngữ của một cộng đồng người. Nghi thức hỏi để chào, nghi thức hạ bậc trong lời mời, nghi thức khiêm nhường trước lời khen tặng … trong tiếng Việt đều thuộc bình diện này.

NCNN là toàn bộ hoàn cảnh bên trong ngôn ngữ, có tính chất nội chiếu, bao gồm tất cả sự tương tác giữa chủ thể và các phương tiện giao tiếp hữu quan. Nói rõ hơn, dù ở cấp độ nào: ngữ âm, từ vựng, cú pháp và cả tổ chức văn bản,chúng đều có sự khác biệt giữa các hằng thể tĩnh tại và các biến thể động, bao gồm biến thể ngôn ngữ gắn liền với người sử dụng và biến thể ngôn ngữ trong sử dụng.

Rõ ràng, nếu không được trang bị đầy đủ các tri thức hữu quan vừa nêu, sinh viên nước ngoài khó lòng sử dụng tiếng Việt một cách thành thạo.

 

 
<< Start < Prev 1 2 Next > End >>

Results 16 - 27 of 27

Special news

Sponsored Links

Syndicate

VNS News

Who's online?

We have 2 members online
  • 07PS010
  • 07PS002

Search with Google

Google

VSL Textbook 1

 

Click here for details.

VSL Textbook 2

Click here for details.

VSL Textbook 3

Click here for details.

VSL Textbook 4

Click here for details.

 

BVG Dictionary

Click here for details.