Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về các từ chỉ màu xanh như xanh, thanhbiếc vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Ít người biết xanh cũng gắn liền với nền thi ca Việt Nam qua truyện Kiều: hai nhân vật chính là Thúy Kiều và Thúy Vân. Tên gọi Thúy 翠 nghĩa là màu xanh lục, một tên thường đặt cho phái nữ. Từ ‘xanh’ hiện nay lại mang thêm một nghĩa thời thượng và đặc biệt liên hệ đến môi trường sạch (không ô nhiễm, không bị đen[2]), khác xa với nét nghĩa nguyên thủy và cơ bản của xanh từ thời cổ đại. Đảng Xanh (Green party/A) cũng xuất hiện ở các nước tân tiến với đại học xanh, kỹ nghệ xanh, môn hóa học xanh (Green chemistry) và phong trào "ngày chủ nhật xanh" vào năm nay (2019) ở VN.

Tác giả: Nguyễn Ngọc Chính

Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn. Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh.

TTO - Roland Jacques - linh mục, nhà ngôn ngữ học người Pháp - luôn tin rằng Francesco De Pina (người Bồ Đào Nha), chớ không phải Đắc Lộ, là tác giả chữ quốc ngữ.

Lê Khắc Cường

Tóm tắt—Trong khi dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, người dạy thường đối diện với nhiều thắc mắc của học viên nước ngoài liên quan đến tiếng Việt. Bên cạnh những câu hỏi không dễ trả lời vì sự phức tạp về mặt khoa học, còn có khá nhiều câu hỏi khó trả lời không kém do sự thiếu vắng các quy định mà lẽ ra không thể thiếu đối với một ngôn ngữ quốc gia có trên 90 triệu người nói như tiếng Việt. 

Phan Thanh Tâm

Tóm tắt—Bài viết này trình bày những vấn đề cơ bản về Hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Stiêng nhằm xác định những nét tương đồng và dị biệt của đại từ nhân xưng trong tiếng Stiêng với đại từ nhân xưng trong tiếng Việt. Hệ thống đại từ nhân xưng của mỗi dân tộc không những thực hiện chức năng xưng gọi mà còn thể hiện đặc điểm ngôn ngữ và văn hoá giao tiếp của dân tộc đó. Vị trí của đại từ nhân xưng trong tiếng Stiêng và sắc thái biểu cảm của nó trong giao tiếp xã hội có những nét đặc trưng riêng trong cách sử dụng.

Nguyễn Trần Quý

Tóm tắt—Trong nghiên cứu ngữ âm học, cần có số liệu làm minh chứng xác thực. Thủ pháp phân tích ngữ âm học có giá trị cho việc kiểm chứng các giả thuyết âm vị trước đây. Qua đó, nêu lên cơ sở khoa học để củng cố các quan niệm nghiên cứu ngữ âm, âm vị học chính thống. Nếu như các chỉ số của formant F1, F2, F3 được xem là cơ sở để đo đạc các nguyên âm thì đối với phụ âm, các chỉ số Voice onset time (VOT), độ dịch chuyển formant, tiền formant, tần số quỹ tích formant sẽ được chú ý. 

Trần Thủy Vịnh

Tóm tắt—Truyện cười (jokes) rất phổ biến trong cuộc sống - tuy ngắn gọn nhưng tinh tế, đậm chất nghệ thuật của ngôn từ. Tiếng Việt cũng như tiếng Anh đều có nhiều truyện cười dựa trên cơ sở vận dụng hiện tượng mơ hồ ngôn ngữ. Người nghe/người đọc nhận ra các tình huống, sự kiện tức cười nhờ có “công cụ” mơ hồ ngôn ngữ kết hợp với kiến thức và sự nhạy cảm ngôn ngữ của mình.

Phan Trần Công

Tóm tắt—Mối quan hệ gần - xa giữa các ngôn ngữ trong ngữ hệ thể hiện qua tỷ lệ tương ứng từ vựng, nhất là từ vựng cơ bản, giữa các ngôn ngữ đó. So sánh từ vựng để xác minh quan hệ ngôn ngữ còn giúp xác định nguồn gốc của các ngôn ngữ trong vòng khả nghi, mà cụ thể trong bài này là tiếng Tà Mun.