Quyên Di*

Dấu thanh: Một sáng kiến tuyệt vời

Chữ Quốc ngữ là thứ chữ được xây dựng trên căn bản là “âm”. Âm phát ra thế nào thì dùng các ký hiệu là những chữ cái và những dấu thanh để ghi lại âm đó trên giấy. Nhìn những ký hiệu được nối kết ấy mà người ta đọc được những âm mà những ký hiệu ấy ghi lại. Cũng như người biết xướng âm một bản nhạc được ghi trên giấy bằng những “nốt” đô, rê, mi, pha, son, la, si, dấu móc, dấu đen, dấu trắng, dấu tròn,…, người đọc chữ Quốc ngữ cũng “xướng âm” “bản văn nói” được ghi trên giấy bằng “bản văn viết”.

*    Giáo sư, Tiến sĩ, Đại học California, Los Angeles (UCLA), Hoa Kỳ.

Nguyễn Cung Thông[1]

(phần 24)

Phần này bàn về bản tường trình hàng năm gởi từ Ma Cao của LM Dòng Tên João Rodrigues Girão cho năm 1619. Ngoài bức thư bằng tiếng Bồ-Đào-Nha này, các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.

[1] Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

 Nguyễn Cung Thông[1]

(phần 21B)

Phần này bàn về cách dùng quan tiền và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ quốc ngữ và nước ngoài. Ngoài ra, một số nhận xét của người ngoại quốc khi dùng đồng tiền An Nam cũng cho thấy thực trạng của loại tiền này. Các phê bình này hầu như thiếu vắng trong tài liệu Hán, Nôm hay chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập hay khảo sát sâu xa. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .

Nguyễn Cung Thông[1]
(phần 21A)

Phần này bàn về cách dùng tiền quí, cheo, bài ca dao “đi chợ tính tiền” và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ Nôm/chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập đến. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false . Không có nhiều tài liệu Hán Nôm viết về chủ đề tiền tệ trước đây nên người viết dựa vào một số ca dao và thành ngữ/tục ngữ đã được lưu truyền trong dân gian.

Phạm Thùy Chi*

  1. Đặt vấn đề

Trong đường hướng lấy người học làm trung tâm, việc lựa chọn phương pháp giảng dạy thường phức tạp hơn việc xây dựng các mục tiêu giảng dạy rất nhiều. Thông thường, giáo viên có thể tiến hành kiểu công việc này theo hai giai đoạn. Trong giai đoạn thứ nhất, giáo viên cần tìm kinh nghiệm của người học và các phương pháp học tập mà họ ưa thích để trên cơ sở đó, với kinh nghiệm sẵn có của mình, giáo viên có thể lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp. Ở giai đoạn thứ hai, giáo viên cần thu hút sự tham gia tích cực của người học vào việc lập kế hoạch cho các chương trình học tập của họ. Công việc này có thể thực hiện được bằng cách khuyến khích người học suy nghĩ, tham gia vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức một cách tích cực, chủ động và sáng tạo. Do đó việc tổ chức hoạt động học tập trong các giờ học nói chung và trong giờ học ngoại ngữ nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng và rất cần được giáo viên chú ý trong việc thiết kế chương trình, nội dung của bài giảng. Hai hình thức tổ chức lớp học phổ biến là làm việc theo cặp (Pairwork) và làm việc theo nhóm (Groupwork).

Pham Thi Thu Giang*

Nguyen Mai Hạnh**

  1. Research data and research methodology:

We recorded 20 participants (called CTVs) including Laotian and Cambodian students who already finished first year course (intermediate level) in the Military Technical Academy. They were divied by their teachers into three main groups, which can be listed as “Good” (CTV1), “Medium” (CTV2) and “Poor” (CTV3).

“Audacity” software is used as a recording tool and is set up in the computer with the default value of 22, 050Hz, 16 bit and file format “.wave”. CTVs’ recording files are then seperated into 2,360 small files and divided into 20 folders.

Nguyễn Hải Hoành

Bài viết giải đáp được phần nào các câu hỏi: Vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.

Nguyễn Vân Phổ*

  1. Trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, hầu hết - nếu không muốn nói là tất cả - đều trình bày cấu trúc câu tiếng Việt theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ một cách hiển ngôn hoặc không. Theo đó, để diễn đạt một sự tình người ta thường sử dụng cấu trúc “song phần” là chủ ngữ và vị ngữ; nếu không đủ hai phần thì đó là câu “đơn phần”, chủ ngữ đã được tỉnh lược. Nếu ngoài chủ ngữ và vị ngữ (vốn được xem là hai thành phần bảo đảm sự hoàn chỉnh của câu) còn một thành phần nào khác - đứng trước chủ ngữ, trước hoặc sau vị ngữ - thì đấy là trạng ngữ, “quán ngữ” (hoặc một thứ gì đó tương tự).