Phạm Thùy Chi*

  1. Đặt vấn đề

Trong đường hướng lấy người học làm trung tâm, việc lựa chọn phương pháp giảng dạy thường phức tạp hơn việc xây dựng các mục tiêu giảng dạy rất nhiều. Thông thường, giáo viên có thể tiến hành kiểu công việc này theo hai giai đoạn. Trong giai đoạn thứ nhất, giáo viên cần tìm kinh nghiệm của người học và các phương pháp học tập mà họ ưa thích để trên cơ sở đó, với kinh nghiệm sẵn có của mình, giáo viên có thể lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp. Ở giai đoạn thứ hai, giáo viên cần thu hút sự tham gia tích cực của người học vào việc lập kế hoạch cho các chương trình học tập của họ. Công việc này có thể thực hiện được bằng cách khuyến khích người học suy nghĩ, tham gia vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức một cách tích cực, chủ động và sáng tạo. Do đó việc tổ chức hoạt động học tập trong các giờ học nói chung và trong giờ học ngoại ngữ nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng và rất cần được giáo viên chú ý trong việc thiết kế chương trình, nội dung của bài giảng. Hai hình thức tổ chức lớp học phổ biến là làm việc theo cặp (Pairwork) và làm việc theo nhóm (Groupwork).

Pham Thi Thu Giang*

Nguyen Mai Hạnh**

  1. Research data and research methodology:

We recorded 20 participants (called CTVs) including Laotian and Cambodian students who already finished first year course (intermediate level) in the Military Technical Academy. They were divied by their teachers into three main groups, which can be listed as “Good” (CTV1), “Medium” (CTV2) and “Poor” (CTV3).

“Audacity” software is used as a recording tool and is set up in the computer with the default value of 22, 050Hz, 16 bit and file format “.wave”. CTVs’ recording files are then seperated into 2,360 small files and divided into 20 folders.

Nguyễn Hải Hoành

Bài viết giải đáp được phần nào các câu hỏi: Vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.

Nguyễn Vân Phổ*

  1. Trong các tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, hầu hết - nếu không muốn nói là tất cả - đều trình bày cấu trúc câu tiếng Việt theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ một cách hiển ngôn hoặc không. Theo đó, để diễn đạt một sự tình người ta thường sử dụng cấu trúc “song phần” là chủ ngữ và vị ngữ; nếu không đủ hai phần thì đó là câu “đơn phần”, chủ ngữ đã được tỉnh lược. Nếu ngoài chủ ngữ và vị ngữ (vốn được xem là hai thành phần bảo đảm sự hoàn chỉnh của câu) còn một thành phần nào khác - đứng trước chủ ngữ, trước hoặc sau vị ngữ - thì đấy là trạng ngữ, “quán ngữ” (hoặc một thứ gì đó tương tự).

Nguyễn Văn Chính*

  1. Đặt vấn đề

Dạy ngôn ngữ thứ hai nói chung, dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng, đã có lịch sử khá lâu. Việc học tiếng Việt của người nước ngoài có thể nhằm nhiều mục đích khác nhau nhưng dù là với mục đích nào thì, với người học, cái đích cuối cùng của họ vẫn là sử dụng thành thạo tiếng Việt, coi đó là cái chìa khóa để mở cánh cửa Việt Nam. Ngôn liệu trong các bộ sách dạy tiếng Việt (sách công cụ) hiện có, tuy đã thỏa mãn phần nào nhu cầu của người học, người dạy nhưng dường như vẫn ít nhiều làm người học cảm thấy nặng nề bởi cách chú giải ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng,… mang tính hàn lâm.

Cao Xuân Hạo

Ai nấy đều biết rằng tiếng Việt không có một đại từ nhân xưng (hay hồi chỉ) trung hoà. Không phải tiếng Việt không có những đại từ nhân xưng chính danh. Tao, mày, nó, hắn (chúng tao, chúng mày, chúng nó) và họ, có thể coi là những đại từ nhân xưng và hồi chỉ chính danh. Nhưng trừ họ (đại từ hồi chỉ ngôi thứ ba số phức) ra, tất cả các đại từ này đều được cảm thụ như không được lễ độ, và không thể dùng trong khi giao tiếp với người dưng trong khuôn khổ xã giao bình thường, và ngay cả họ cũng không phải lúc nào cũng dùng được (chẳng hạn không thể dùng thay cho cha mẹ hay người thân tộc ở bậc trên so với người nói).

ROLAND BARTHES

 Roland Barthes, “Le bruissement de la langue”, Essais critiques IV, Le bruissement de la langue, Paris: Le Seuil, 1984. pp 85 – 89. Bản dịch tiếng Việt đã đăng trên Tạp chí Cửa Biển, số 166/2016, pp.120-122.

Nguyễn Trần Quý*

1. Đặt vấn đề

Ở nước ta, ngữ pháp tiếng Việt được nghiên cứu theo quan điểm chức năng xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỉ XX qua một số bài viết mang tính chất giới thiệu như: Giới thiệu lí thuyết phân đoạn thực tại câu của Lí Toàn Thắng (1981); Vấn đề thành phần câu của Hoàng Tuệ (1988).