TS. Nguyễn Hoàng Trung

Tóm tắt

Tiếng Việt phát triển cùng với những biến động lịch sử - xã hội của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc tiếp xúc với các ngôn ngữ khác nhau là một quá trình tất yếu. Nó giúp tiếng Việt trở nên phong phú trên mọi bình diện ngôn ngữ. Các nhà Việt ngữ học đã tìm được những công cụ cần yếu từ các ngôn ngữ nguồn để miêu tả các hệ thống trong tiếng Việt, từ hệ thống ngữ âm, hệ thống từ vựng cho đến hệ thống ngữ pháp. Tuy nhiên, những công cụ ấy, nói chính xác hơn là những khái niệm ngôn ngữ (từ loại, hình vị, thì, thể, thức, thái…) tiếp nhận chủ yếu từ các ngôn ngữ biến hình.

Sao phỏng – con dao hai lưỡi trong miêu tả ngữ pháp tiếng Việt

 

ThS. Nguyễn Thị Thanh Truyền

Tóm tắt

Trong các tình huống nói năng hàng ngày, chúng ta thường sử dụng "chỉnh chu" và "chỉn chu". Tuy nhiên, từ "chỉnh chu" hoàn toàn không có trong từ điển. Còn "chỉn chu" có nghĩa là "chu đáo", "cẩn thận", "không chê trách gì được". Sau khi phân tích ý nghĩa của "chỉnh chu", chúng tôi tin rằng nó đã được sử dụng hợp lý và đúng nghĩa. Và đã đến lúc "chỉnh chu" nên được chính thức thừa nhận và có một chỗ đứng "hợp pháp" trong tiếng Việt.

Về các đơn vị “chỉnh chu”, “chỉn chu”?

 

GS.TS. Đinh Lê Thư

Tóm tắt

Trong bài báo này, chúng tôi đề cập đến cách sử dụng các phó từ chỉ mức độ hơi - khá, rất - quá - lắm. Các phó từ loại này tuy số lượng ít nhưng tần số xuất hiện tương đối cao trong tiếng Việt và giữ vai trò khá quan trọng trong việc biểu thị các sắc thái tình cảm tế nhị trong các phán đoán về mức độ. Làm rõ cách sử dụng phó từ chỉ mức độ này và sự khác biệt ý nghĩa khi sử dụng chúng chẳng những giúp ta hiểu rõ thêm sự phong phú của tiếng Việt mà còn góp phần giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài có hiệu quả hơn.

Cách sử dụng các phó từ chỉ mức độ rất- quá - lắm, hơi - khá

ThS. Nguyễn Thanh Thủy

Tóm tắt

Lĩnh vực giảng dạy ngôn ngữ đã trải qua nhiều biến chuyển và xu thế khác nhau, hình thành nên rất nhiều cách tiếp cận và phương pháp dạy tiếng. Phương pháp Task-Based Language Teaching (TBLT) đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm. Bài viết này giới thiệu khái quát về TBLT, các ưu điểm và khả năng áp dụng của phương pháp này trong giảng dạy “Tiếng Việt thương mại”. Bốn phần đầu của bài viết lần lượt trình bày thuật ngữ “tasks”, khung cấu trúc của TBLT, vai trò của giảng viên trong phương pháp TBLT và một số bí quyết để áp dụng hiệu quả phương pháp này.

Phương pháp dạy học  task-based language teaching và  khả năng ứng dụng vào việc dạy  “tiếng Việt thương mại”

ThS. Phan Thanh Tâm

Tóm tắt

Bài viết này trình bày về cụm động từ tiếng Stieng có các thành phần phụ trước, thành phần trung tâm và thành phần phụ sau tương tự như cụm động từ trong tiếng Việt và cũng có chức năng làm thành phần kiến tạo nên câu, đồng thời nó cũng có thể đứng độc lập trong những ngữ cảnh cụ thể tạo nên một thông báo giữa người nói và người nghe.

Cụm động từ tiếng Stiêng

TS. Nguyễn Hoàng Phương

Tóm tắt

Trong Mental Spaces, Giles Fauconier cho rằng một biểu thức ngôn ngữ bất kỳ nào cũng sẽ gợi lên một vùng không gian tinh thần trong tâm thức của chủ thể tiếp nhận. Đây là một lí thuyết hoàn toàn đúng đắn trong nghiên cứu ngôn ngữ học theo quan điểm tri nhận, đã được kiểm chứng không chỉ riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ mà cả tâm lí học, thần kinh học, văn hóa học, triết học, dân tộc học, v.v. Trong bài viết này, chúng tôi nghiên cứu các yếu tố không gian tri nhận của động từ tri giác tiếng Việt và tiếng Anh.

Không gian tri nhận của động từ tri giác

Thạc sĩ. Nguyễn Thanh Phong–  Cử nhân. Trần Thị Tâm

Tóm tắt

Văn nói, văn hội thoại tiếng Việt phản ánh tính đa dạng trong cách biểu hiện ngôn từ ngữ nghĩa của người Việt. Một đơn vị câu chuẩn (theo chuẩn ngữ pháp) có thể có nhiều biến thể kèm theo các yếu tố tình thái – hàm ngôn. Chúng tôi muốn tìm hiểu thêm hoạt động của các kiểu kết hợp có biểu thị ý nghĩa mức độ, bên cạnh nhóm từ rất – quá – lắm. Công việc này cũng như là một cố gắng muốn tìm hiểu thêm những kết hợp biểu thị mức độ thường dùng trong văn hội thoại, bên cạnh các từ chỉ mức độ thường được đề cập đến từ trước đến nay rất – quá – lắm.

Các kết hợp biểu thị nghĩa mức độ bên cạnh nhóm từ rất – quá – lắm

TS. Nguyễn Vân Phổ

Tóm tắt

Trong bài viết này tác giả đã phân tích các đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của “cùng” với tư cách là một vị từ, một vị từ tình thái và một giới từ. Tác giả chứng minh rằng “cùng” là một tác tử đánh dấu thuyết đồng nhất (trong khi đó, “đều” đánh dấu đề đồng nhất). Nói cách khác, “cùng” cho thấy rằng các đối tượng đồng quy (“gặp nhau”) ở hành động, thuộc tính, trạng thái của chúng. Trong cấu trúc của “cùng” thường có mặt liên đới thể. Liên đới thể có thể ẩn nếu nó được bao hàm trong một danh ngữ phức số làm đề (chủ ngữ) của câu; lúc này, nó có thể được nhận diện dưới hình thức một đại từ tương hỗ.

“cùng” – tác tử đánh dấu thuyết đồng nhất