Nguyễn Văn Lịch[*]

Đông phương học đã ra đời từ thế kỷ XIX ở châu Âu. Việt Nam học ra đời muộn hơn so với các ngành Ai Cập học, Ả Rập học, Ấn Độ học, Trung Quốc học. Từ những năm 1990 ở các nước châu Âu giới nghiên cứu Việt Nam tổ chức những Hội nghị khoa học Euro - Việt. Năm 1998, Việt Nam tổ chức Hội nghị quốc tế Việt Nam học. Năm 2000, Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau đó, Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Việt Nam học lần thứ 2 năm 2004, lần 3 năm 2008, lần 4 năm 2012, lần 5 năm 2016. Sự quan tâm khá đặc biệt của thế giới đến Việt Nam, của các nhà Việt Nam học quốc tế có tác động làm ngành Việt Nam học ở Việt Nam phát triển.

[*]     Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Thăng Long.

CLAUDE IMBERT
Phạm Anh Tuấn dịch

 Bài thuyết trình của bà Claude Imbert, giáo sư Trưởng Khoa Triết ĐH Sư phạm Cao cấp Paris, tại Viện Triết học, Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2015. Phạm Anh Tuấn dịch, Thầy BÙI VĂN NAM SƠN hiệu đính, bài được in chung trong HÀNH TRÌNH CỦA TRẦN ĐỨC THẢO, HIỆN TƯỢNG HỌC VÀ CHUYỂN GIAO VĂN HÓA, NXB ĐH Sư Phạm ấn hành năm 2017). | Phiên bản điện tử đăng trên triethoc.edu.vn do dịch giả Phạm Anh Tuấn cung cấp.

  1. Nguyễn Đức Mậu

      Nửa cuối thế kỉ XIX Việt Nam nói riêng, và phương Đông nói chung, đứng trước thực tế mới, đó là khả năng xâm lược của Phương Tây. Nhật Bản và Việt Nam, trong hoàn cảnh đó, cùng đều xuất hiện những nhà cải cách  mà tiêu biểu là Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ[1]. Và với xuất phát điểm gần nhau[2] nhưng hai nước đồng văn, đồng chủng này, sau mấy chục năm, trở thành đứng ở hai cực phát triển và lạc hậu, điều gì tạo nên những kết quả như vậy, chắc sâu xa trong đó phần nào là kết quả của những cách nghĩ khác nhau mà những nhà cải cách[3] là người thể hiện rõ cái phần quan trọng của sự khác biệt này.

Nguyễn Văn Hoài*

  1. Tổng quan tình hình giới thiệu, nghiên cứu Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc

Nhìn chung, đến thời điểm hiện tại, số công trình giới thiệu, nghiên cứu về Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc còn khá ít ỏi. Theo chúng tôi, số công trình này có thể chia làm hai nhóm: thứ nhất là, những bài viết giới thiệu tác gia, khái quát thành tựu văn học và phiên dịch giới thiệu tác phẩm; thứ hai là, những bài nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và tác phẩm.

*        Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Nguyễn Tiến Lực*

MỞ ĐẦU

Theo GS Furuta Motoo thì, trong việc nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài (ngoài Việt Nam), xét về quy mô, tổ chức, số lượng báo cáo học thuật lẫn cơ quan nghiên cứu thì Nhật Bản chiếm một vị trí hàng đầu (Furuta Motoo, 2000, tr.227). Trong các Hội thảo Việt Nam học quốc tế, lần nào họ cũng tham dự một số lượng hùng hậu, chiếm giữ nhiều vị trí chủ đạo trong các diễn đàn. Báo cáo của các nhà nghiên cứu Nhật Bản được đánh giá cao bởi nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy, những kết luận rút ra mang tính học thuật cao. Không nghi ngờ gì nữa, xét về nhiều mặt, Nhật Bản trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu về Việt Nam mạnh nhất ở nước ngoài.

Nguyễn Thị Oanh*

Đinh Huyn Phương**

MỞ ĐẦU

Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (Ecole Francaise d'Extrême-Orient, viết tắt là EFEO) là viện nghiên cứu về lịch sử học, khảo cổ và ngôn ngữ học liên quan đến bán đảo Ấn Độ - Trung Hoa và các nước thuộc vùng Viễn Đông (tức Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước thuộc quần đảo Nam Dương). Theo Kim Vĩnh Kiện[1], “Viện Viễn Đông Bác cổ được thành lập vào ngày 15 tháng 12 năm 1898. Trước khi Tổng thống Pháp là Paul Doumer bị ám sát ở Paris (vào ngày mồng 6 tháng 5 [1932]), ông là Tổng đốc Indo Chine của Pháp. Tên đầu tiên của học viện là Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Đông Dương (Mission Archéologique d’Indochine), đến ngày 20 tháng 01 năm 1900 đổi thành tên Viện Viễn Đông Bác cổ. Việc nghiên cứu của học viện mang tính hàn lâm và chiếm vị trị quan trọng trong giới Đông Dương học của thế giới.

*     Phó Giáo sư. Tiến sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long.
**   Thạc sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long.
1     Kim Vĩnh Kiện: “Viện Viễn Đông Bác cổ và một số tình hình gần đây”, đăng trong Tạp chí Sử học Nghiên cứu, quyển 4, số 1, Tokyo, 1932, tr.126.

Nguyễn Cung Thông[1]

 Phần này bàn về Kinh Lạy Cha (KLC) qua các dạng ghi nhận trong văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Phân tách kỹ hơn KLC sẽ tìm ra các dấu ấn của tiếng Việt cổ, sự thay đổi cách dùng trong tiếng Việt và ngay cả ảnh hưởng chính trị và thời cuộc. Cũng vào thời gian soạn phần 5A này, các vị giám mục Pháp đã quyết định đổi một chữ trong KLC "Ne nous soumets pas à la tentation" thành "Ne nous laisse pas entrer en tentation" (so với KLC tiếng Việt 2017 "Xin chớ[2] để chúng con sa chước cám dỗ", tiếng Anh "lead us not into temptation").

[1] Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne (Úc) - địa chỉ This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

[2] Có tác giả dịch cách mới là "xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ", thí dụ như xem bài viết (10/2017) này http://www.sudiepchuaden.com/2017/10/su-iep-ung-nghiem-kinh-lay-cha-moi-se.html ...v.v...

Nguyễn Thị Kim Phượng*

Cho đến nay, số tác phẩm du ký của người Trung Quốc ghi chép về An Nam khá nhiều, nhưng chỉ có bốn tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, đó là: Chân Lạp phong thổ ký, An nam cung dịch kỷ sự, Hải ngoại kỷ sự, Hải Nam tạp trứ. Trong đó, Chân Lạp phong thổ ký 真臘風土記 của Châu Đạt Quan 周達觀 (1266-1346), phác họa vài nét về phong cảnh vùng sông Mê Kông trong chuyến đi đến Chân Lạp của tác giả, hình ảnh người Việt chưa có trong tác phẩm này. Ba tác phẩm An nam cung dịch kỷ sự (1657, thời Chúa Nguyễn Phúc Tần, do Chu Thuấn Thủy - một nhân sĩ Trung Quốc lưu vong, lánh nạn ghi chép lại); Hải ngoại kỷ sự (khoảng 1695, của một nhà sư được Chúa Nguyễn Phúc Chu thỉnh đến An Nam, pháp danh Thích Đại Sán); Hải Nam tạp trứ ((1835 của Thái Đình Lan, một văn nhân bị bão mà lưu lạc đến An Nam), cả ba đều tập trung ghi chép lại nhiều mặt về phong vật nước An Nam, đời sống dân chúng vào thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

*     Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.