1. Nguyễn Đức Mậu

      Nửa cuối thế kỉ XIX Việt Nam nói riêng, và phương Đông nói chung, đứng trước thực tế mới, đó là khả năng xâm lược của Phương Tây. Nhật Bản và Việt Nam, trong hoàn cảnh đó, cùng đều xuất hiện những nhà cải cách  mà tiêu biểu là Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ[1]. Và với xuất phát điểm gần nhau[2] nhưng hai nước đồng văn, đồng chủng này, sau mấy chục năm, trở thành đứng ở hai cực phát triển và lạc hậu, điều gì tạo nên những kết quả như vậy, chắc sâu xa trong đó phần nào là kết quả của những cách nghĩ khác nhau mà những nhà cải cách[3] là người thể hiện rõ cái phần quan trọng của sự khác biệt này.

Nguyễn Văn Hoài*

  1. Tổng quan tình hình giới thiệu, nghiên cứu Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc

Nhìn chung, đến thời điểm hiện tại, số công trình giới thiệu, nghiên cứu về Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc còn khá ít ỏi. Theo chúng tôi, số công trình này có thể chia làm hai nhóm: thứ nhất là, những bài viết giới thiệu tác gia, khái quát thành tựu văn học và phiên dịch giới thiệu tác phẩm; thứ hai là, những bài nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và tác phẩm.

*        Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Nguyễn Tiến Lực*

MỞ ĐẦU

Theo GS Furuta Motoo thì, trong việc nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài (ngoài Việt Nam), xét về quy mô, tổ chức, số lượng báo cáo học thuật lẫn cơ quan nghiên cứu thì Nhật Bản chiếm một vị trí hàng đầu (Furuta Motoo, 2000, tr.227). Trong các Hội thảo Việt Nam học quốc tế, lần nào họ cũng tham dự một số lượng hùng hậu, chiếm giữ nhiều vị trí chủ đạo trong các diễn đàn. Báo cáo của các nhà nghiên cứu Nhật Bản được đánh giá cao bởi nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy, những kết luận rút ra mang tính học thuật cao. Không nghi ngờ gì nữa, xét về nhiều mặt, Nhật Bản trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu về Việt Nam mạnh nhất ở nước ngoài.

Nguyễn Thị Oanh*

Đinh Huyn Phương**

MỞ ĐẦU

Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (Ecole Francaise d'Extrême-Orient, viết tắt là EFEO) là viện nghiên cứu về lịch sử học, khảo cổ và ngôn ngữ học liên quan đến bán đảo Ấn Độ - Trung Hoa và các nước thuộc vùng Viễn Đông (tức Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước thuộc quần đảo Nam Dương). Theo Kim Vĩnh Kiện[1], “Viện Viễn Đông Bác cổ được thành lập vào ngày 15 tháng 12 năm 1898. Trước khi Tổng thống Pháp là Paul Doumer bị ám sát ở Paris (vào ngày mồng 6 tháng 5 [1932]), ông là Tổng đốc Indo Chine của Pháp. Tên đầu tiên của học viện là Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Đông Dương (Mission Archéologique d’Indochine), đến ngày 20 tháng 01 năm 1900 đổi thành tên Viện Viễn Đông Bác cổ. Việc nghiên cứu của học viện mang tính hàn lâm và chiếm vị trị quan trọng trong giới Đông Dương học của thế giới.

*     Phó Giáo sư. Tiến sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long.
**   Thạc sĩ, Giảng viên Đại học Thăng Long.
1     Kim Vĩnh Kiện: “Viện Viễn Đông Bác cổ và một số tình hình gần đây”, đăng trong Tạp chí Sử học Nghiên cứu, quyển 4, số 1, Tokyo, 1932, tr.126.

Nguyễn Cung Thông[1]

 Phần này bàn về Kinh Lạy Cha (KLC) qua các dạng ghi nhận trong văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Phân tách kỹ hơn KLC sẽ tìm ra các dấu ấn của tiếng Việt cổ, sự thay đổi cách dùng trong tiếng Việt và ngay cả ảnh hưởng chính trị và thời cuộc. Cũng vào thời gian soạn phần 5A này, các vị giám mục Pháp đã quyết định đổi một chữ trong KLC "Ne nous soumets pas à la tentation" thành "Ne nous laisse pas entrer en tentation" (so với KLC tiếng Việt 2017 "Xin chớ[2] để chúng con sa chước cám dỗ", tiếng Anh "lead us not into temptation").

[1] Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne (Úc) - địa chỉ This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

[2] Có tác giả dịch cách mới là "xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ", thí dụ như xem bài viết (10/2017) này http://www.sudiepchuaden.com/2017/10/su-iep-ung-nghiem-kinh-lay-cha-moi-se.html ...v.v...

Nguyễn Thị Kim Phượng*

Cho đến nay, số tác phẩm du ký của người Trung Quốc ghi chép về An Nam khá nhiều, nhưng chỉ có bốn tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, đó là: Chân Lạp phong thổ ký, An nam cung dịch kỷ sự, Hải ngoại kỷ sự, Hải Nam tạp trứ. Trong đó, Chân Lạp phong thổ ký 真臘風土記 của Châu Đạt Quan 周達觀 (1266-1346), phác họa vài nét về phong cảnh vùng sông Mê Kông trong chuyến đi đến Chân Lạp của tác giả, hình ảnh người Việt chưa có trong tác phẩm này. Ba tác phẩm An nam cung dịch kỷ sự (1657, thời Chúa Nguyễn Phúc Tần, do Chu Thuấn Thủy - một nhân sĩ Trung Quốc lưu vong, lánh nạn ghi chép lại); Hải ngoại kỷ sự (khoảng 1695, của một nhà sư được Chúa Nguyễn Phúc Chu thỉnh đến An Nam, pháp danh Thích Đại Sán); Hải Nam tạp trứ ((1835 của Thái Đình Lan, một văn nhân bị bão mà lưu lạc đến An Nam), cả ba đều tập trung ghi chép lại nhiều mặt về phong vật nước An Nam, đời sống dân chúng vào thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

*     Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

Nguyễn Thanh Phong*

  1. Dẫn nhập

Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ giao lưu sách vở từ rất lâu đời. Thời điểm sớm nhất được biết đến hiện nay là dưới thời Tam Quốc, Sĩ Nhiếp được Ngô vương sai sang xây dựng nền học thuật trên đất Giao Châu, trí thức học sĩ phương Bắc cũng thường xuyên lui tới, có lẽ từ lúc này sách vở Trung Quốc bắt đầu được truyền rộng đến miền Bắc Việt Nam. Trải qua suốt ngàn năm Bắc thuộc, dù tư liệu ghi chép lưu lại đến nay không nhiều, nhưng chắc chắc rằng nhiều sách vở của tam giáo Nho - Phật - Đạo, quan trọng nhất là sách vở Phật giáo, vào những thời điểm hưng hịnh của Phật giáo Trung Hoa, đã liên tục được truyền đến Giao Châu, hoặc được các tăng sinh du học mang về, góp phần bồi huấn lớp tăng sĩ trí thức ít ỏi trong nước đương thời.

*     Thạc sĩ, Đại học An Giang.

Nguyễn Mạnh Sơn*

MỞ ĐẦU

Bàn về thân thế và sự nghiệp của Trần Kinh Hòa, trước đây đã có nhiều bài viết đáng chú ý của Léon Vandermeersch (Léon Vandermeersch, 1996, tr.10-17), của Đoàn Khoách sưu tập (Đoàn Khoách, 1997, tr.92-105), hay gần đây nhất có bài viết của Nguyễn Văn Đăng (Nguyễn Văn Đăng, 2012, tr.107-118). Bài viết này chúng tôi sẽ không bàn lại những vấn đề đó. Tuy nhiên, để góp thêm một quan điểm trong việc tìm hiểu về cuộc đời nghiên cứu của Trần Kinh Hòa, chúng tôi cho rằng có ba thời điểm cần đặc biệt lưu tâm: Thứ nhất , thời điểm Trần Kinh Hòa học tại Đại học Keio, chịu ảnh hưởng từ giáo sư Matsumoto Nobuhiro - được xem là nhân vật tiên phong trong nghiên cứu về Việt Nam tại Nhật Bản với rất nhiều khảo cứu đáng chú ý và có giá trị về lịch sử và thư tịch Hán Nôm Việt Nam.