Shimizu Masaaki*

Lịch sử học tập và giảng dạy tiếng Việt của người Nhật từ đầu thế kỷ XVIII cho đến giữa thế kỷ XX được chia làm hai giai đoạn: (1) thời kỳ bế quan tỏa cảng (thế kỷ XVIII) và (2) từ thời kỳ Pháp thuộc (đầu thế kỷ XIX) đến thời kỳ Nhật chiếm đóng Việt Nam (thập niên 1940). Đối tượng chính dùng để phân tích của từng giai đoạn là tiếng Việt trong các bộ phiêu lưu ký; các giáo trình dành cho Đông Kinh thông sự; sách giới thiệu lịch sử nước An Nam và các giáo trình tiếng An Nam giữa thế kỷ XX.

*     Giáo sư, Đại học Osaka, Nhật Bản.

Trong Tia sáng số 14 (20.7.2020), PGS Nguyễn Thị Hạnh (Học viện Ngoại giao) và NNC Vũ Đức Liêm  (trường ĐH Sư phạm Hà Nội) đã cùng điểm lại các làn sóng tư liệu ghi chép của người Pháp phản ánh lịch sử, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam trong cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong số này, hai nhà nghiên cứu sẽ cùng thảo luận sâu hơn về thao tác đánh giá các tư liệu lịch sử, nhằm giúp độc giả hiện đại tiếp cận với các nguồn tài liệu này có được cái nhìn phê phán cần thiết trước các sử liệu được coi là “gốc”.

 NATHALIE UYEN(*)

Văn học Pháp ngữ Việt Nam hiện đại có thể được đọc từ nhiều cấp độ khác nhau: sự minh họa cho những nhân vật và sự kiện ở bối cảnh nước ngoài; việc tìm hiểu những tình thế tiến thoái lưỡng nan đặc biệt đe dọa nhân vật chính người Việt Nam; hoặc, từ một cấp độ khác, như cách viết lại những văn bản Việt ngữ trước đó. Chính cấp độ thứ ba này sẽ được tìm hiểu ở đây. Việc đọc một văn bản hiện đại có thể trở nên phong phú hơn nhiều qua việc phân tích những phương thức mà văn bản đó sử dụng văn học cổ điển, đặc biệt là trong trường hợp sử dụng theo hướng phá bỏ. Hướng tiếp cận này sẽ cho phép độc giả nhận thức sâu sắc hơn về sự phong phú của văn bản và tính phức tạp của văn học Pháp ngữ hiện đại.

Truyện thơ Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem là một trong những kiệt tác của văn chương Việt Nam. Nó được sáng tác vào những năm đầu của thế kỷ XIX. Được viết lại từ một tiểu thuyết ít tiếng tăm đời Thanh (1644-1911) [3, tr.xxi], Truyện Kiều kể về những thăng trầm xảy đến với một cô gái xinh đẹp, xuất thân danh giá và đức hạnh[1]. Đó là thi phẩm chứa đầy ám chỉ văn hoa về văn học và triết học cổ điển Trung Quốc cũng như Việt Nam[2]. Được biết đến như một truyện tình lãng mạn, một phúng dụ chính trị, một cuốn sách bói toán và một ngụ ngôn đạo đức, sự hiện diện của nó trong những trước tác của các nhà văn Việt Nam viết bằng tiếng Pháp đương đại, bởi vậy, cho thấy tầng tầng lớp lớp ý nghĩa văn chương.

Phan Thu Vân*

Những năm trở lại đây, nhiều tổng tập tư liệu văn học chữ Hán của Việt Nam đã được ra đời tại Trung Quốc và lãnh thổ Đài Loan. Bên cạnh những công bố về tư liệu gốc, nhiều nghiên cứu của các học giả quốc tế về tiểu thuyết Hán văn Việt Nam cũng được thực hiện, đưa đến những góc nhìn phong phú đa dạng về văn hóa và văn học Việt Nam. Xét về mức độ tìm hiểu nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Hán văn Việt Nam nói riêng, các học giả Trung Quốc và lãnh thổ Đài Loan có một ưu thế đặc biệt, vì họ am hiểu ngôn ngữ Hán cổ và có thể tiếp cận tư liệu một cách dễ dàng hơn nhiều học giả Việt Nam ngày nay.

Alastair Lamb

Bài viết này trích trong chương đầu tiên của cuốn sách “The Mandarin Road to Old Hue: Narratives of Anglo-Vietnamese Diplomacy from the 17th century to the eve of the French conquest” (tạm dịch: Con đường cái quan tới Huế xưa: Ký sự về ngoại giao Anh – Việt từ thế kỷ 17 tới khi Pháp xâm lược) của sử gia Alastair Lamb. Qua ghi chép của những người Châu Âu đầu tiên giao thương với Việt Nam, có thể thấy vị trí địa lý chiến lược của nước ta trong mối quan hệ kinh tế – thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới đã được công nhận và đánh giá cao ngay từ thế kỷ 16. Việc tìm hiểu về các thương cảng và các tuyến thương mại của Việt Nam xưa sẽ cung cấp những gợi ý để phát huy, khai thác đúng đắn lợi thế của Việt Nam trong thời điểm hiện tại. Tạp chí Phương Đông trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết này.

Phan Thị Yến Tuyết*

Không ít câu hỏi được nêu lên vì sao Việt Nam chỉ là một đất nước nhỏ nhưng tiếng Việt và Việt Nam học lại được quan tâm tại nhiều quốc gia trên thế giới? Hiện nay, có khoảng gần 4 triệu người Việt Nam đang sống rải rác trên hơn 100 quốc gia trên thế giới. Hiện nay hơn chín mươi quốc gia trên thế giới có sự hiện diện của những cộng đồng người Việt. Về mặt học thuật, việc giảng dạy, nghiên cứu tiếng Việt và Việt Nam học đã có những tên gọi mang dấu ấn khác nhau về cách nhìn (như Đông Phương học, Châu Á học, Khu vực học, Việt học, Việt Nam học,…) đã thúc đẩy sự lý giải, nghiên cứu Việt Nam học. Như vậy, đặc điểm của tình hình giảng dạy tiếng Việt và Việt Nam học trên thế giới đã bao hàm nhiều sắc thái về lịch sử, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khu vực học (Area Studies) chỉ mới bắt đầu từ khi chủ nghĩa tư bản phát triển và đại cách mạng ở châu Âu, đặc biệt vào thế kỷ XIX. Đến thế kỷ XIX, XX nhu cầu hiểu biết về thế giới nhằm phục vụ cho mục đích chinh phục thuộc địa đã thôi thúc các nước lớn ở châu Âu lập những trung tâm nghiên cứu về khu vực học, mà trước hết là ngành Đông Phương học. 

Phan Thị Thu Hiền*

DẪN NHẬP

Nghiên cứu văn học Việt Nam cần kết hợp cái nhìn bên trong và cái nhìn bên ngoài, chú ý hơn nữa đến đội ngũ và thành tựu của các học giả quốc tế. Điều đó không chỉ giúp chúng ta có điểm tham chiếu để đánh giá khách quan, chính xác hơn nền văn học dân tộc mà còn có thể hiểu biết và xúc tiến nghiên cứu văn học dân tộc trong bối cảnh khu vực và bối cảnh thế giới một cách toàn diện, sâu sắc hơn.

Như Huy

Đào Mai Trang thực hiện

 Lời ngỏ của người thực hiện phỏng vấn

Nghệ thuật đương đại Việt Nam đã có gần 20 năm “lịch sử” với sự khởi đầu của một số nghệ sĩ tiền phong trong nước cùng những người nước ngoài chọn Việt Nam như một điểm dừng chân quan trọng trên hành trình sáng tạo và tìm kiếm bản thể. Đó là một bối cảnh lịch sử còn rất nhiều điểm trống: không có một luồng thông tin chính thống nào về dạng thức nghệ thuật này, bao gồm lý thuyết, sự hình thành-vận động-tiến triển của nghệ thuật đương đại trên thế giới, trong khu vực, một hệ thống báo chí phê bình đúng nghĩa ở trong nước, một hệ thống kiến thức trong trường học, và hơn hết là một hệ thống bảo tàng-gallery-curator-công chúng.