Tác giả: Lê Thị Thanh Tâm

Chỉ có “Trường thơ Loạn” và nhóm “Xuân thu nhã tập” trước năm 1945 là hai thi phái hiện đại duy nhất ở Việt Nam có những quan tâm thật sự về tâm linh trong thơ, tâm linh theo nghĩa là một thứ “linh khí” của sáng tạo. Tâm linh trong thơ ca của người Việt vẫn còn là mảnh đất tiếp tục mới.

Nguyễn Văn Hoài*

  1. Tổng quan tình hình giới thiệu, nghiên cứu Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc

Nhìn chung, đến thời điểm hiện tại, số công trình giới thiệu, nghiên cứu về Hồ Xuân Hương của học giới Trung Quốc còn khá ít ỏi. Theo chúng tôi, số công trình này có thể chia làm hai nhóm: thứ nhất là, những bài viết giới thiệu tác gia, khái quát thành tựu văn học và phiên dịch giới thiệu tác phẩm; thứ hai là, những bài nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và tác phẩm.

*        Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Tác giả: Huỳnh Như Phương

Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954-1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh. Ảnh hưởng đó thể hiện ở chỗ đây là trào lưu, tuy lúc đậm lúc nhạt, nhưng đã hiện diện gần như trọn cả một giai đoạn lịch sử đen tối và phức tạp. Ảnh hưởng đó thể hiện cả trên bình diện lý luận lẫn trên bình diện sáng tác, cả trong giới chuyên môn lẫn trong độc giả phổ cập, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường. Điều đó còn thể hiện ở chỗ đây là một ảnh hưởng đa chiều, có thuận có nghịch, có hiện sinh và phản hiện sinh, có những sản phẩm chính cấp và sản phẩm thứ cấp, có những đứa con chính thức lẫn “những người con hoang”.

Lê Thị Thanh Xuân*

  1. Mở đầu

 Phê bình nữ quyền sinh thái (ecofeminism) là một khuynh hướng nghiên cứu mới và đầy tính khả dụng. Nói như nhà phê bình Nguyễn Thị Tịnh Thy thì “phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái – kết tinh của cuộc hôn phối giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong phê bình văn học”  (Nguyễn Thị Tịnh Thy (2017)). Đây chính là một sự kết hợp thể hiện sợi dây vô hình gắn bó chặt chẽ của thiên tính nữ/giới nữ và thiên nhiên. Người khởi đầu cho phong trào này là Francoise d’Eaubonne, sau đó lan rộng ra các nước phương Tây vào những năm 90 của thế kỷ XX.

Nguyễn Tiến Lực*

MỞ ĐẦU

Theo GS Furuta Motoo thì, trong việc nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài (ngoài Việt Nam), xét về quy mô, tổ chức, số lượng báo cáo học thuật lẫn cơ quan nghiên cứu thì Nhật Bản chiếm một vị trí hàng đầu (Furuta Motoo, 2000, tr.227). Trong các Hội thảo Việt Nam học quốc tế, lần nào họ cũng tham dự một số lượng hùng hậu, chiếm giữ nhiều vị trí chủ đạo trong các diễn đàn. Báo cáo của các nhà nghiên cứu Nhật Bản được đánh giá cao bởi nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy, những kết luận rút ra mang tính học thuật cao. Không nghi ngờ gì nữa, xét về nhiều mặt, Nhật Bản trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu về Việt Nam mạnh nhất ở nước ngoài.

Trần Ngọc Hiếu & Trần Thị Thùy An

Năm 1975 đánh dấu sự chấm dứt của gần 30 năm đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh gần như liên tiếp nhau. Đời sống hậu chiến đòi hỏi cần phải nhìn lại những gì mà con người Việt Nam đã nếm trải, chịu đựng, vượt qua trong những cuộc chiến tranh được xem là dữ dội, khốc liệt bậc nhất trong lịch sử hiện đại. Người ta bắt đầu nghĩ về chiến tranh như cái giá không chỉ cộng đồng mà mỗi cá nhân buộc phải trả cho quyền sống. Những tiếng nói về sự mất mát, chịu đựng, tổn thương của con người vốn thường bị kìm nén ở giai đoạn khi cuộc chiến đang tiếp diễn giờ đây có điều kiện được cất lên. Những góc nhìn khác về ý nghĩa của chiến tranh có cơ hội để bày tỏ, bộc lộ, từ đó chiến tranh hiện ra với nhiều diện mạo khác, bên cạnh gương mặt anh hùng mà các diễn ngôn thời chiến đã tập trung khắc họa. Nói một cách khác, những diễn ngôn mới về chiến tranh đã được xuất hiện và văn học hậu chiến là không gian nơi ta có thể quan sát được sự hình thành của những diễn ngôn ấy.

(Khảo sát qua phạm trù mimesis-mô phỏng của phương Tây)

Tác giả: Trần Nho Thìn

 

Nói về tính phổ biến, tính toàn nhân loại của văn hóa (trong đó có văn học) và tính đặc thù riêng của từng khu vực văn hóa, từng dân tộc thì giới nghiên cứu đã nói nhiều. Nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu so sánh văn luận phương Đông –phương Tây thì vấn đề này hiện còn gây ra những băn khoăn, những tranh luận. Để hình dung rõ điều này, chúng tôi xin chọn phân tích từ góc nhìn so sánh Đông-Tây một phạm trù lý luận của phương Tây-mimesis (mô phỏng) như một nghiên cứu trường hợp.

Lê Thị Thanh Tâm*

Phan Ngọc đặt trọng tâm ở “cách”: “phương cách”, “cách thức”, “cách tiếp cận”, “cách thức nhận”, “cách xem xét”, “thử xét”,… trong hầu hết các vấn đề nghiên cứu nói chung mà ông quan tâm. Sự thiết yếu của phương pháp (cách thức) đặt trọng tâm ở chỗ: nó cần đến sự phân tích một cách sống còn, hướng đến sự thuyết phục có được nhờ phân tích, bởi sự phân tích ấy mà phản chiếu của cái lõi tư tưởng xuyên suốt bên trong. Trong trường hợp này, những kết luận khoa học có khả năng trở nên “sang trọng” hơn (ở cả tư tưởng và con đường tiếp cận) nhờ được đào luyện trong nỗ lực thực sự của trí tuệ. Một phương pháp thiếu tư tưởng là phương pháp khó có sức sống. Một tư tưởng thiếu phương pháp thì nó khó hiển lộ. Phương pháp của Phan Ngọc là hồi âm của tư tưởng trước những thách thức giải mã cơ chế khái niệm.

*     Tiến sĩ, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, ĐHQG-HN.