Nguyễn Hữu Sơn*

  1. Mở đầu

  Khi nói đến “thể tài du ký” cần nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật người viết. Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác chủ yếu bằng bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến du ngoạn, các điểm du lịch, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và còn liên quan tới nhiều phương diện văn hóa học, xã hội học, dân tộc học khác nữa,… [3, tr.75-76].

Nguyễn Duy Đoài*

 ĐẶT VẤN ĐỀ

Bài viết này, chúng tôi trình bày “Tín ngưỡng Thiên Y A Na trong đời sống của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi”, nhằm góp phần tìm hiểu những giá trị lịch sử, văn hóa của cư dân mà cả đời gắn bó với vùng biển đảo này nhằm thích nghi với môi trường sinh sống. Để thực hiện bài viết, chúng tôi dựa trên các lý thuyết để nghiên cứu như: vùng văn hóa (cultural area), thuyết sinh thái văn hóa (cultural ecology),iao lưu tiếp biến văn hóa (cultural exchanges) và chức năng luận (functionalism) để vận dụng vào thực tiễn trong tín ngưỡng Thiên Y A Na của người Việt ở huyện đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi.

Phan Thị Thu Hiền*

DẪN NHẬP

Nghiên cứu văn học Việt Nam cần kết hợp cái nhìn bên trong và cái nhìn bên ngoài, chú ý hơn nữa đến đội ngũ và thành tựu của các học giả quốc tế. Điều đó không chỉ giúp chúng ta có điểm tham chiếu để đánh giá khách quan, chính xác hơn nền văn học dân tộc mà còn có thể hiểu biết và xúc tiến nghiên cứu văn học dân tộc trong bối cảnh khu vực và bối cảnh thế giới một cách toàn diện, sâu sắc hơn.

Như Huy

Đào Mai Trang thực hiện

 Lời ngỏ của người thực hiện phỏng vấn

Nghệ thuật đương đại Việt Nam đã có gần 20 năm “lịch sử” với sự khởi đầu của một số nghệ sĩ tiền phong trong nước cùng những người nước ngoài chọn Việt Nam như một điểm dừng chân quan trọng trên hành trình sáng tạo và tìm kiếm bản thể. Đó là một bối cảnh lịch sử còn rất nhiều điểm trống: không có một luồng thông tin chính thống nào về dạng thức nghệ thuật này, bao gồm lý thuyết, sự hình thành-vận động-tiến triển của nghệ thuật đương đại trên thế giới, trong khu vực, một hệ thống báo chí phê bình đúng nghĩa ở trong nước, một hệ thống kiến thức trong trường học, và hơn hết là một hệ thống bảo tàng-gallery-curator-công chúng.

FLIER A JA(*), LÊ SƠN dịch

 

FLIER A JA. Prinadlezhit li kultura tolko cheloveku?. ONS. No3, 2006, st.155-161. | Thông tin Khoa học xã hội, số 4-2007.

 Từ gốc Latinh “kultura” (cultura - canh tác, cày bừa, chăm bón, trồng trọt, làm ruộng), như mọi người đều biết, có xuất xứ từ nông nghiệp. Thuật ngữ Hy Lạp ở thời kỳ cổ nhất “paideija” có nghĩa chính là văn hoá theo cách hiểu gần như hiện nay, nói một cách chính xác hơn, đã biểu thị nền văn minh Hy Lạp bằng cách nhấn mạnh sự khác biệt của nó với thời đại dã man (barbarie). Theo mức độ phát triển của La Mã và sự giao lưu của nó với người Hy Lạp, thuật ngữ địa phương “kultura” cũng làm thay đổi phạm vi áp dụng nó và chủ yếu được sử dụng để nhận xét về con người con người được giáo dục, con người có học thức, con người am hiểu các truyền thống, phong tục, tập quán địa phương.

TRẦN NGHĨA

Thuyết Hán Nôm Việt Nam, như chúng ta biết, rất phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại. Có khoảng 40 tác phẩm viết bằng chữ Hán hoặc Hán - Nôm hỗn hợp(1) và chừng 50 tác phẩm nữa viết bằng chữ Nôm(2). Tiểu thuyết chữ Hán thường dùng văn ngôn (văn ngôn văn) hoặc nửa văn ngôn nửa bạch thoại (bán văn bán bạch), bao gồm tiểu thuyết bút ký, tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết diễm tình và các loại du ký (công du). Tiểu thuyết chữ Nôm thường dùng văn vần, chủ yếu là thơ lục bát hay Đường luật, phần lớn thuộc loại truyền kỳ hoặc diễm tình.

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG*

Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời ở Việt Nam, người Việt sử dụng chữ Hán và chữ Nôm làm công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và văn hóa. Chữ Hán là thứ chữ tượng hình, tượng ý thuộc loại khối chữ vuông, chữ Nôm là chữ Hán - Việt (dùng chữ Hán để biểu hiện âm Việt). Tuy nhiên, hai văn tự đều khó học, khó nhớ, khó tiếp cận đối với tầng lớp nhân dân lao động.

HENRIK SYSE(*)

ĐINH HỒNG PHÚC dịch

 Thật thú vị khi thấy có bao nhiêu là đài phát thanh tiếp sóng thời sự và phát thanh viên đòi hỏi phải có những góc nhìn và những hiểu biết sáng suốt những ngày này từ cái mà chúng ta thường hay gọi là viễn tượng triết học (philosophical perspective). Khi chúng ta đối mặt với đại dịch COVID-19,tôi là một trong những người được hỏi, và tôi cố gắng góp phần đáp ứng yêu cầu này.