Kwon Hyeok-rae

GIỚI THIỆU

Mục đích của bài viết này là phân tích tình hình nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam hiện nay và đưa ra hướng nghiên cứu trong tương lai.

Truyện cổ bao gồm truyện dân gian truyền thống, đã được lưu truyền từ lâu, trong đó bao gồm cả văn bản truyện dân gian viết bằng thơ, truyện cổ tích được xử lý và kể lại theo sở thích và trình độ của trẻ em. Có hai tiền giả định trong định nghĩa này.

TRẦN NGHĨA-LƯƠNG THỊ THU
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Những năm gần đây, do để tâm tới văn học so sánh, chúng tôi phát hiện thêm nhiều tác gia, tác phẩm văn học cổ ở trong nước cũng như ở nước ngoài viết về Vương Thuý Kiều.

Thuộc phạm vi trong nước, ngoài Truyện Kiều của Nguyễn Du mà chúng ta đều biết, còn có không ít những sáng tác khác lấy câu chuyện Vương Thuý Kiều làm đề tài(1). Trong số này, có loại dùng Kim Vân Kiều truyện (KVKT) của Thanh Tâm Tài Nhân (TTTN) làm bản nguồn (văn bản nguyên thuỷ, source text) để viết, và ở trường hợp này, tác phẩm đang nói tới sẽ là bản phái sinh (soạn lại, revuriting), như Truyện Kiều (còn có các tên gọi khác: Thuý Kiều truyện, Kim Vân Kiều truyện, Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du; Kim Vân Kiều lục của Phạm Quý Thích; Hội đề Kiều thi của Phạm Quý Thích, Hà Quyền; Thanh Tâm Tài Nhân thi tập của Trần Bích San, Chu Mạnh Trinh; Thanh Tâm Tài Nhân cổ kim minh lương đề vịnh tập biên của Minh Mệnh, Tự Đức, Nguyễn Khuyến v.v...

Huỳnh Vĩnh Phúc 
Tiến sĩ, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ.
Nguyễn Thị Kim Phượng
Tiến sĩ, Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG-HCM.
Morimoto Taisei
Sinh viên, Đại học Osaka Nhật Bản.

  1. Vận động nữ quyền tại Trung Quốc và Nhật Bản trong bối cảnh chuyển biến từ truyền thống sang hiện đại của Đông Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
    • Vận động nữ quyền tại Trung Quốc

Nửa cuối thế kỷ XIX, các nhà tư tưởng Trung Quốc Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục sau khi tiếp thu tư tưởng “Nhân quyền thiên phú” (天赋人权) của Phương Tây đã dùng tư tưởng này để quan sát và phân tích vấn đề phụ nữ của Trung Quốc, làm nảy sinh những tư tưởng nam nữ bình đẳng mang màu sắc lý tính. Khang Hữu Vi trong Đại đồng thư (大同书) viết rằng: con người do trời sinh ra có thân thể tất có quyền, người xâm phạm quyền đó là xâm phạm thiên quyền, người bỏ quyền đó là người mất thiên chức. Nam và nữ tuy thân thể khác nhau, nhưng cũng đồng là quốc dân, do đó mỗi bên đều có nhân quyền: tự lập, tự chủ, tự do, và nam nữ bình đẳng là điều kiện để thực hiện thế giới đại đồng (Hà Lê Bình (1997): 85).

Tác giả: Bùi Trân Phượng

Khi nói đến truyền thống văn hóa Việt Nam liên quan đến vị thế người phụ nữ trong xã hội, nhiều người nghĩ đến Nho giáo, thậm chí Tống Nho. Có ít nhất hai lý do chính. Thứ nhất, Nho giáo là bộ phận cấu thành của văn hóa Việt qua nhiều thế kỷ từ Bắc thuộc đến các triều đại độc lập và mãi đến ngày nay. Thứ hai, khi người phương Tây đến Việt Nam vào thời cận đại (thế kỷ 16-17) nước Việt thời đó đang độc tôn Tống Nho trong khoa cử; nên đó là hiện trạng được nhiều nhà quan sát phương Tây chứng kiến và ghi chép lại.

Huỳnh Như Phương

MỞ ĐẦU

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) và việc ký kết Hiệp định Genève (20-7-1954), đất nước Việt Nam vẫn chưa được thống nhất như ước nguyện của người dân. Hiệp định này quy định lực lượng kháng chiến của Việt Minh và lực lượng của Pháp, vốn ở thế đan cài giữa nông thôn, rừng núi, đô thị, phải đình chiến và tập kết ở hai miền, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17, trong khi chờ hai năm sẽ hiệp thương bầu cử để thống nhất đất nước.

Huỳnh Ngọc Thu
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.
Lê Thị Mỹ Hà
Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM. 

  1. Cộng đồng người Cil ở Lang Biang

Người Cil, theo Danh mục các dân tộc Việt Nam được Ban hành theo Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 02 tháng 3 năm 1979 của Tổng cục Thống Kê Việt Nam, được xem là nhóm người địa phương của tộc người K’ho, nên không có tên trong danh mục 54 dân tộc của Việt Nam. Khi nghiên cứu về lịch sử tộc người Cil, Mạc Đường cho rằng, “… người Chil (Cil) là bộ lạc riêng cư trú ở vùng cao nguyên Lâm Viên, và thuộc cơ cấu của bộ tộc M’nông trước đây…” (Mạc Đường, 1983, tr.295). “… Người Cil cùng với người K’ho, Lạt thuộc các nhóm người nhỏ bé, có khả năng đã chống lại người M’nông và kéo về sống ở phía Nam trong những vùng biệt lập ở lưu vực sông Krông Knô và cao nguyên Lâm Viên” (Mạc Đường, 1983, tr.299).

Hoàng Thị Hiền Lê

Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Trung tâm 123 Vietnamese.

  1. Đặt vấn đề

Văn hóa Việt Nam hiện nay một mặt luôn giữ gìn những tinh hoa truyền thống của dân tộc, một mặt vẫn có sự tiếp biến giao lưu với văn hóa khu vực và quốc tế. Vậy sự tiếp biến đó bắt đầu từ khi nào? Nó thăng hoa vào giai đoạn nào? Lịch sử dân tộc trải qua nhiều biến cố thăng trầm, song hành với những biến cố đó là nhiều sự dịch chuyển của văn hóa, văn học, nghệ thuật. Trong đó, giai đoạn đầu thế kỷ XX từ 1930 đến 1945 có thể xem là thời kỳ có nhiều thay đổi lớn với sự du nhập của nhiều luồng tư tưởng khác nhau trong xã hội.

Hoàng Minh Phúc

Phó Giáo sư. Tiến sĩ, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam.

  1. Dẫn nhập

“Từ khi có con người, mỗi người chúng ta lẽ dĩ nhiên là cần phải nói với người khác những gì mà mình biết và những gì mà mình suy nghĩ như chúng ta. Nhu cầu này là một điều kiện sinh tồn đối với con người ngay từ lúc sơ khai” (F.Terrou, 1968, tr.13).

Từ thời kỳ tiền sử, khi chưa có tiếng nói, chữ viết, con người giao tiếp với nhau bằng âm thanh, ký hiệu, hình vẽ, màu sắc,... Khi có tiếng nói, thông tin được chuyển tải qua nhiều hình thức, từ những câu chuyện truyền khẩu, những bài hát đồng dao, những câu ca dao, câu vè, đố, trong sinh hoạt đình làng, qua mõ làng và nhiều hình thức dân gian khác.