HENRIK SYSE(*)

ĐINH HỒNG PHÚC dịch

 Thật thú vị khi thấy có bao nhiêu là đài phát thanh tiếp sóng thời sự và phát thanh viên đòi hỏi phải có những góc nhìn và những hiểu biết sáng suốt những ngày này từ cái mà chúng ta thường hay gọi là viễn tượng triết học (philosophical perspective). Khi chúng ta đối mặt với đại dịch COVID-19,tôi là một trong những người được hỏi, và tôi cố gắng góp phần đáp ứng yêu cầu này.

Minh Thi

Bài viết này bàn luận hai nhân tố cơ bản khả dĩ giải thích cho những thành công vừa qua của điện ảnh châu Á, tập trung vào trường hợp hai bộ phim Parasite và The Farewell: sự kết hợp giữa câu chuyện mang tính toàn cầu và tính dị biệt Á đông, cùng thông điệp chính trị rút ra từ những thành công mới này.

Nguyễn Bá Long*

Nằm ở eo biển Tây - Nam tận cùng Tổ quốc, từ vùng đất hoang vu, kể từ khi Mạc Cửu (1655-1735) đến đây khai ấp lập trấn (1708), trải qua hơn ba thế kỷ, bằng mồ hôi và xương máu của bao thế hệ cư dân mở mang - gìn giữ, Hà Tiên trở thành miền biên ải trù phú, sơn thủy hữu tình - xứ sở của thơ ca nhạc họa, nức tiếng một thời với Tao đàn Chiêu Anh Các. Tìm hiểu đời sống cư dân nơi đây qua kiến trúc nhà ở và các công trình tôn giáo - tín ngưỡng, chúng tôi thấy đã có sự giao lưu, hòa hợp văn hóa của ba dân tộc Việt - Hoa - Khmer.

Bùi Minh Hào

  1. Khái niệm Vốn văn hóa (Cultural Capital) là một trong số những khái niệm về vốn được nhà xã hội học nổi tiếng Pháp – Pierre Bourdieu[1] xây dựng và vận dụng trong các công trình nghiên cứu về xã hội học của ông. Trong quá trình nghiên cứu, Bourdieu đã sử dụng nhiều khái niệm vốn, trong đó chủ yếu là vốn kinh tế (Economic Capital), vốn xã hội (Social Capital), vốn văn hóa (Culture Capital) và vốn biểu tượng (Symbolic Capital).

Le Tu Anh*

  1. Mở đầu

Trong các nguy cơ đưa tới khủng hoảng sinh thái, chiến tranh là thứ không gì khủng khiếp hơn. Chiến tranh vừa phá vỡ/hủy diệt sinh thái tự nhiên, vừa gây nên những sang chấn tinh thần ghê gớm và để lại di chứng nặng nề. Không chỉ trong đời sống lịch sử, xã hội mà trong văn học, vấn đề này cũng đã được thể hiện rất rõ.

Tác Giả: Nguyễn Đình Chú

Đây là một trong những vấn đề cơ bản của lịch sử văn học dân tộc mà khoa nghiên cứu văn học có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ. Bởi lẽ lịch sử văn học dân tộc bao gồm hai bộ phận chính dựa theo hai phương thức sáng tác khác nhau, truyền miệng và thành văn, nhưng lại còn liên quan đến hai loại hình tác giả có vị trí xã hội, hoàn cảnh sinh sống, quan niệm nhân sinh, tư tưởng, tình cảm, kể cả hoàn cảnh sáng tác, tâm thế sáng tác, động cơ sáng tác có mặt khác nhau. Hai bộ phận văn học đó có quan hệ với nhau. Nhưng việc nhận thức về mối quan hệ này trong thực tiễn nghiên cứu lại có sự khác nhau và cũng có quá trình vận động tiến lên. Phần viết sau đây là muốn đưa ra một cách nhận thức tối ưu trên cơ sở quan sát, tổng kết, rút kinh nghiệm từ những gì đã có ở những người đi trước.

OLGA BALLA

 “Bước ngoặt ngôn ngữ học”

    Không một thời đại nào trước đây biết đến sự chú ý đối với ngôn ngữ như thời đại chúng ta. Con người đã suy nghĩ về bản chất của ngôn ngữ rất nhiều và từ lâu, ít nhất là từ thời cổ đại, nhưng đến thế kỷ XX trong sự phát triển của văn hóa châu Âu đã xảy ra cái có thể gọi là “bước ngoặt ngôn ngữ học”. Người ta đã ý thức được rằng ngôn ngữ – không chỉ, thậm chí không phải trước hết, là “công cụ của tư duy” và vật trung giới giữa con người và hiện thực. Nó đã được khám phá ra như là một hiện thực tự tại tạo ra cả bản thân con người và thế giới của con người. Hóa ra có thể lấy nó làm mô hình về nhận thức và về con người, và cả về nhiều hiện tượng của con người. Và thậm chí không chỉ của con người. Đó là một trong những khám phá quan trọng nhất của thế kỷ chúng ta.

Tác giả: Lê Thị Thanh Tâm

Chỉ có “Trường thơ Loạn” và nhóm “Xuân thu nhã tập” trước năm 1945 là hai thi phái hiện đại duy nhất ở Việt Nam có những quan tâm thật sự về tâm linh trong thơ, tâm linh theo nghĩa là một thứ “linh khí” của sáng tạo. Tâm linh trong thơ ca của người Việt vẫn còn là mảnh đất tiếp tục mới.