ThS. Trần Thị Tươi

Tóm tắt

Là một trong những thành viên trụ cột của nhóm Sáng Tạo những năm 50-60 của thế kỷ XX, có thể xem Thanh Tâm Tuyền là người tiên phong, mở đường cho diễn ngôn mới của thời đại – diễn ngôn thơ tự do. Xuất phát từ tinh thần nghệ thuật Dionysos – nghệ thuật của sức sáng tạo say sưa mãnh liệt, Thanh Tâm Tuyền đã phá bỏ hình thức thơ truyền thống, đổi mới tư duy và mỹ cảm thơ, đưa lại cho văn nghệ miền Nam một luồng sinh khí mới. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, thơ ca Thanh Tâm Tuyền đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Với bài viết này, chúng tôi hy vọng có thể đem đến một cái nhìn khác về thi giới Thanh Tâm Tuyền dưới lăng kính của diễn ngôn.

“Nghệ thuật Dionysos” như một diễn ngôn trong thơ thanh tâm tuyền

 

 PGS.TS. Phan Thị Yến Tuyết

Tóm tắt

Việc chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo, sau đó rời bỏ tôn giáo đã theo, thậm chí trở lại tôn giáo cũ của các dân tộc thiểu số như Xtiêng, Chơ Ro, Mnông, Mạ, Khmer và nhóm tộc người Tà Mun tại miền Đông Nam Bộ (cụ thể ở tỉnh Bình Phước và Đồng Nai), đã diễn ra qua quá trình lịch sử và bối cảnh xã hội đặc thù của họ. Các dân tộc nếu có sự chọn lựa duy lý trong tôn giáo của mình thì không chỉ đơn thuần là việc cân nhắc, tính toán các điều kiện vật chất thuận lợi mà tôn giáo đó đem lại, mà còn do các yếu tố tâm lý, tình cảm, niềm tin sâu sắc, thiêng liêng của con người dành cho tôn giáo đó.

Chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo trong các cộng đồng dân tộc thiểu số tại miền đông Nam Bộ

 

Thạc sĩ. Nguyễn Thị Huyền Trang

Tóm tắt

Thiệu Trị là vị vua thứ ba của triều Nguyễn. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng ông đã tạo lập được một sự nghiệp văn chương đồ sộ về số lượng, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức thể loại và cao cấp về mặt chữ nghĩa. Nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Tân Phong, Nguyễn Tài Cẩn đã có những nghiên cứu về nghệ thuật dùng chữ trong sáng tác của Thiệu Trị.

 

Gia tài văn chương của Thiệu Trị qua Đại Nam thực lục

TS. Nguyễn Thị Kim Phượng

Tóm tắt

“Đạo 道” nghĩa từ nguyên là con đường, cách thức, về sau phát triển thành những phạm trù triết học thuộc về vũ trụ luận – “hình nhi thượng”, nhân sinh luận – “hình nhi hạ”. Nhân sinh luận được thể hiện qua quy tắc ứng xử trong các mối quan hệ mà con người làm trung tâm: Đạo Trời, Đạo cang thường – Đạo làm người. Đi vào lời ăn tiếng nói của người dân Việt: tục ngữ, ca dao – dân ca, ngoài những ý nghĩa luân lý tiếp nhận từ Nho giáo, Đạo của người Việt còn có những nét nghĩa mới, kết tinh của sự chắt lọc tinh tế tiếp nhận của người dân Việt với những chuẩn tắc Nho giáo tích cực, phù hợp với tâm thức người Việt. Theo như cách vận dụng để sáng tác ca dao của họ:

Chữ đạo (道) trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt

TS. Trần Thị Mai Nhân

Tóm tắt

Hiện nay, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu mang tính toàn cầu. Ở Việt Nam, nhu cầu phát triển khoa học kỹ thuật để đưa đất nước phát triển, hội nhập đã trở thành nhu cầu bức thiết. Vì vậy, trong một thời gian dài, các mối quan tâm của xã hội hầu như đều hướng về các ngành khoa học tự nhiên và ngành KHXH&NV chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức.

Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu

TS. Trần Thị Hoa

Tóm tắt

Về đặc điểm chung: Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia châu Á (Nhật Bản nằm ở Đông Bắc Á, Việt Nam ở Đông Nam Á). Trong quá khứ đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và Phật giáo từ Trung Quốc, vào thời cận đại cũng tiếp thu văn hóa Cơ Đốc giáo từ phương Tây. Cả hai nước đều có tín ngưỡng bản địa riêng của mình (Nhật Bản thờ Thần Đạo Shinto, Việt Nam có tín ngưỡng thờ Mẫu).

Đôi điều cảm nhận  về những nét tương đồng và dị biệt  trong văn hóa Việt Nam và Nhật Bản

 Thạc sĩ. Võ Thanh Hương
Nhóm sinh viên: Lee Ju Youn, Lee Sun Young, Lee Sul Ki,
Kim Jung Hun, Oh In Yeong, Ko Myung Hui, Jung Ho Jeon

 

Tóm tắt

Bài viết của chúng tôi đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt về niềm tin tâm linh và những điều răn dạy trong ngũ giới của Phật giáo ảnh hưởng lên tư tưởng và cách sống của Phật tử hai nước Việt Nam và Hàn Quốc tại hai ngôi chùa Quảng Tế (Long Xuyên, An Giang) và chùa Dae Han Jeong Sa (chùa cho Phật tử Hàn Quốc tại TP HCM).

Sự ảnh hưởng của niềm tin tâm linh  và ngũ giới vào đời sống văn hóa  của phật tử Việt Nam tại chùa Quảng Tế  và phật tử Hàn Quốc tại chùa Đaehan Jeongsa

ThS. Bùi Thị Duyên Hải

Tóm tắt

Chiếc áo dài là sản phẩm thuộc văn hóa vật chất của người Việt, giúp phân biệt với các tộc người khác ở Việt Nam cũng như với các tộc người khác trên thế giới. Áo dài đã trở thành một biểu tượng văn hóa của người Việt, là quốc phục của Việt Nam, được nhiều bạn bè quốc tế biết đến. Để có được như vậy, áo dài đã có những bước phát triển, đồng thời cũng có những bước thoái hóa do tác động của các yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Bài viết chủ yếu đề cập đến quá trình biến đổi của chiếc áo dài nữ giới qua thời gian. Đồng thời, cũng nêu một số yếu tố tác động đến sự biến đổi của áo dài trong lịch sử như văn hóa, kinh tế, chính trị, lịch sử. 

Áo dài của phụ nữ Việt - quá trình biến đổi