Nguyễn Công Lý*

  1. Giới thiệu chung

Khái niệm “thời Lý - Trần” được chúng tôi dùng trong bài viết này không chỉ là tính riêng hai triều đại Lý và Trần, mà là một khái niệm dùng để chỉ chung cho một thời đại ở Việt Nam kéo dài ngót năm trăm năm tính từ ngày nước nhà giành lại độc lập tự chủ sau chiến công của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào mùa đông năm 938, để mùa xuân năm sau (939) lên ngôi, xưng là Ngô Vương Quyền, cho đến năm 1414 là năm đánh dấu cuộc khởi nghĩa chống quân Minh (Trung Quốc) của nhà hậu Trần bị thất bại. Thời đại này trải qua các triều đại:

Ngô Văn Lệ*

  1. 1. Đặt vấn đề

Các tộc người trong quá trình phát triển đã tích lũy những tri thức không chỉ góp phần vào sự phát triển chung, mà còn làm phong phú văn hóa trong những điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của khoa học và tiến bộ khoa học đã làm cho tri thức địa phương mất dần vai trò trong đời sống cộng đồng, chỉ còn lại ở dạng tàn dư. Đánh giá một cách khách quan, toàn diện và hệ thống về vai trò của tri thức bản địa đối với sự phát triển của các tộc người là một vấn đề rất khó khăn, đòi hỏi không chỉ về thời gian, mà cả các nguồn lực khác. Bởi vì, tri thức bản địa gắn liền với một tộc người, với một địa bàn nhất định.

*     Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM.

Ngô Thị Phương Lan*

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ kết quả nghiên cứu về nợ và các hệ quả kéo theo của nó trong sản xuất của các dân tộc ở vùng Tây Nguyên như là hệ lụy của quá trình chuyển đổi sinh kế từ nông nghiệp tự cung tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa để đáp ứng cho thị trường[1], chúng tôi đặt ra câu hỏi liệu tín dụng “đen” trong sản xuất có phải là trường hợp phổ biến tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam vốn sống trong các tiểu vùng văn hóa - kinh tế - xã hội khác nhau? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã tìm đến các cộng đồng tộc người thiểu số ở một vùng sinh thái khác cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình sản xuất cùng một loại cây nông nghiệp hàng hóa (ngô lai và cà phê) như các dân tộc ở Tây Nguyên và ở các cộng đồng này cũng có hiện tượng vay nợ trong sản xuất.

*     Phó giáo sư, Tiến sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG - HCM.

[1]     Xin xem kết quả báo cáo Hoàng Cầm, Ngô Thị Phương Lan, Hoàng Anh Dũng, Vũ Thành Long và Nguyễn Văn Giáp (2017), “Chuyển đổi sinh kế và vấn đề tín dụng ở một số tộc người thiểu số tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.” Nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) tài trợ. Báo cáo dự án;

Lee Yung Lung  (Lý Vĩnh Long)*

Công bằng xã hội có thể xem là mục tiêu và là chiến lược quốc gia của Việt Nam, trong đó, việc thực hiện công bằng xã hội chỉ được giải quyết triệt để khi và chỉ khi công bằng phân phối được giải quyết. Công bằng trong phân phối có thể xem là nguyên nhân căn bản để thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội. Nó phản ánh tính cân bằng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nghĩa vụ và lợi ích, giữa năng suất lao động và nhu cầu được hưởng lợi từ năng suất ấy.

*     Ph.D. Political Science, USSH, Vietnam National University of Hanoi.

      Assistant Professor, International College, Providence University (Đại học Tịnh Nghi), Taiwan.

Insun Yu*

  1. Ownership of Family Property

Marriage in the Lê society (1428-1788) of Vietnam was closely connected to the perpetuation of the family, i. e., procreation. Married couples were expected to produce one or more children who automatically became the members of the family by birth. The children’s automatic family membership meant that they acquired inheritance of family property. Then, in what way did the children inherit that property?

*     Professor, Doctor, Seoul National University.

Huỳnh Đức Thiện*

Đào Anh Thư**

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng đất Nam Kỳ (Nam Bộ ngày nay), trong đó có Sài Gòn - Chợ Lớn (Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), là vùng đất mới khai phá và có lịch sử phát triển khoảng hơn 300 năm. Trên vùng lãnh thổ này, những lưu dân người Việt từng bước di cư vào khai khẩn vùng đất hoang vu này và đã thấy tiềm năng lớn về nông nghiệp với điều kiện tự nhiên thuận lợi nên đã định cư và phát triển. Sài Gòn - Chợ Lớn, miền Đông và miền Tây Nam Kỳ đã từng bước hình thành và phát triển gắn bó với nhau.

*     Tiến sĩ, Trường  Đại học KHXH&NV - ĐHQG-HCM.
**   Thạc sĩ, Trường  Đại học KHXH&NV - ĐHQG-HCM.

Hoàng Văn Việt

  1. Đặt vấn đề - Khía cạnh lý thuyết

Về hệ thống chính trị - xã hội, trong giới khoa học và bình luận chính trị - xã hội còn tồn tại nhiều cách hiểu và tiếp cận nghiên cứu khác nhau.

Các nhà khoa học Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Úc cho rằng, hệ thống chính trị - xã hội gồm các chủ thể của nó như các cơ quan nhà nước, các đảng chính trị, đôi lúc đồng nhất hệ thống chính trị với chính phủ (Government)[1].

[1]     Xem K.R. Evans, 1996. The Australian Political System. The Jacaranda Press.

Đinh Thị Dung

DẪN NHẬP

Lịch sử văn hóa là tấm gương phản chiếu lịch sử, để chúng ta soi vào đó nhìn thấy những bài học cho thực tại và nhận thức rõ hơn về bản sắc văn hóa của một dân tộc, trong đó lịch sử ngoại giao là một trong những lĩnh vực tiêu biểu, nhất là lịch sử ngoại giao của một quốc gia như Việt Nam thường phải ứng xử với những nước lớn hơn mình rất nhiều.