Nguyễn Thiện Nam*

  1. Mở đầu

Rất nhiều người nước ngoài khi học tiếng Việt, được coi là đạt đến mức thành thạo, ở Việt Nam làm việc đã lâu, họ nói gì người Việt cũng hiểu được, người Việt nói với họ nội dung gì họ cũng hiểu được nhưng lại gặp khó khăn khi nghe những hội thoại tự nhiên giữa người Việt Nam với nhau. Như vậy, đã có thể coi là thật thành thạo chưa? Nhất là một số người Việt khi lần đầu giao tiếp với người nước ngoài, mà vẫn giữ nguyên cách nói tự nhiên của họ với những đặc điểm riêng về ngữ điệu, phát âm và lối nói, ví dụ những người ở “quê” ra, những người nói nhanh, hay cướp âm…thì người nước ngoài, nếu không phải là những trường hợp giỏi đặc biệt, sẽ khó có thể hiểu hết được thông điệp mà người Việt đang trao đổi với người nước ngoài đó và càng khó khăn hơn khi người Việt đang trao đổi với nhau.

ROLAND BARTHES

 Roland Barthes, “Le bruissement de la langue”, Essais critiques IV, Le bruissement de la langue, Paris: Le Seuil, 1984. pp 85 – 89. Bản dịch tiếng Việt đã đăng trên Tạp chí Cửa Biển, số 166/2016, pp.120-122.

Nguyễn Quang Duy

Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

“Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này.”

Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp

  1. Khái niệm hệ thống và kết cấu

Theo cách hiểu chung, “hệ thống” là một thể thống nhất bao gồm các các yếu tố có quan hệ và liên hệ lẫn nhau. Mỗi đối tượng trọn vẹn làm một hệ thống, chẳng hạn: một cái cây, một con vật, một gia đình v.v… Nói đến hệ thống, cần phải nói đến hai điều kiện: a) Tập hợp các yếu tố; b) Những mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó. Cần phân biệt hệ thống với những tập hợp ngẫu nhiên các yếu tố không có quan hệ tất yếu nào đối với nhau. Một đống củi cũng gồm rễ cây, thân cây, cành cây, lá cây… không tạo thành cái cây (hệ thống) mà chỉ là đống củi. Vài ba người ghép lại ở với nhau cũng không thành gia đình, bởi vì họ thiếu những quan hệ thuộc về gia đình.

Nguyễn Thị Thanh Truyền*

  1. Đặt vấn đề

Những tri thức về ngôn ngữ học là hữu ích cho bất cứ ai, đối với một người làm công tác giảng dạy ngôn ngữ thì vấn đề này lại càng cần thiết. Khi nói tiếng mẹ đẻ, hầu như tất cả chúng ta đều vận dụng từ một cách chính xác mà không cần giải thích nguyên nhân tại sao chúng ta lại dùng từ này mà không dùng từ khác trong bối cảnh ngôn ngữ đó. Thế nhưng, đối với những người dạy và học ngoại ngữ, ở đây chúng tôi đề cập đến những người dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ, thì đây là vấn đề cần phải quan tâm và nghiên cứu.

Cao Xuân Hạo

Ðã có một thời người ta bài trừ hai chữ trực thăng và thay nó bằng mấy chữ máy bay lên thẳng, vì trực thăng  “từ Hán-Việt”, một thứ từ ngữ “ngoại lai”, “đi mượn của người Hán”, tức là từ của tiếng nước ngoài, còn lên thẳng là từ “thuần Việt”, là sản phẩm “cây nhà lá vườn” đáng tự hào của người Việt Nam “chính cống”, tức người “Kinh”, người “Giao Chỉ”, người “Keo” hay người “Yuôn”.

Tác giả: Cao Tự Thanh

Thời gian qua, vấn đề dạy chữ Hán (tức mảng từ Việt Hán) trong nhà trường được báo chí đề cập nhiều lần và dư luận quan tâm. Có điều dạy chữ Hán trong trường phổ thông hay đại học thì từ việc đào tạo giáo viên tới xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình v.v sẽ rất tốn tiền, mất nhiều thời gian, mà cung cách nhồi nhét phổ biến trong nhà trường hiện nay chỉ làm công việc ấy trở thành một chuỗi các hành vi bị động, thiếu hứng thú và ít sáng tạo ở phần đông chủ thể tiếp nhận, trong khi đó phải là một quá trình tự nhiên và tự nguyện được nhất hóa vào hoạt động sống của từng cá nhân. Cho nên phải nhìn nhận từ một góc độ khác, hành động theo một cách thức khác.

Nguyễn Thị Thanh Hà*

  1. Khái quát lịch sử di dân của Việt Nam tới Đài Loan

Trong lịch sử phát triển đất nước, người Việt đã không ngừng di cư từ Bắc tới Nam hay từ trong nước ra nước ngoài. Công cuộc Nam tiến của chúa Nguyễn Hoàng đã tạo điều kiện cho người Việt mở rộng phạm vi sinh sống từ đồng bằng sông Hồng tới khu vực miền Thuận Quảng và sau này tới tận mũi Cà Mau. Khi sự giao thương giữa các quốc gia, các vùng trên thế giới ngày càng mật thiết, quan hệ giữa Việt Nam và các nước cũng tạo điều kiện cho người Việt có cơ hội di cư đến các nước khác nhau sinh sống, tạo nên một cộng đồng người Việt ở hải ngoại lên tới hơn 4 triệu người.

*     Thạc sĩ, Đại học Khoa học và Công nghệ Cao Hùng, Đài Loan.