TS Trần Thanh Ái

Hiểu một nhân vật lịch sử đã khó, và khoảng lùi thời gian càng lớn thì độ khó càng cao. Hiểu một nhân vật lịch sử đã gây ra quá nhiều dị biệt trong cách đánh giá như Trương Vĩnh Ký lại càng khó gấp bội: những người khen thì không tiếc lời ca ngợi, thậm chí ca ngợi một cách ngây ngô, còn người chê thì cũng không dè xẻn những từ ngữ xấu xa nào, như “người hèn nhát”, “tên gian điệp”, “kẻ bán nước”… Để không rơi vào một trong hai thái cực này, người nghiên cứu cần phải hết sức khách quan và thận trọng, từ khâu sưu tầm tài liệu, đến khâu dịch văn bản bằng tiếng nước ngoài, đánh giá sự kiện.

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh*

  1. Đặt vấn đề

Nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động quan trọng trong diễn trình phát triển của Việt Nam và Đài Loan, đánh dấu sự chuyển mình rõ nét trên mọi phương diện của đời sống xã hội. Một mặt, đây là thời kì chứng kiến sự chuyển nhượng từng bước và đi đến từ bỏ hoàn toàn vai trò “bảo hộ”, “tôn chủ” lâu đời của nhà Thanh đối với Việt Nam, Đài Loan cho thế lực thứ ba là thực dân Pháp (đối với Việt Nam) và đế quốc Nhật (đối với Đài Loan), từ đây, cả Việt Nam và Đài Loan đều rơi vào tay thực dân, đế quốc, trở thành nước thuộc địa hay bán thuộc địa; mặt khác đây cũng là thời kì sôi động diễn ra các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân hai nước: từ chỗ chỉ đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX sang kết hợp với các phong trào đấu tranh chính trị và văn hóa sôi nổi mang đậm màu sắc dân chủ tư sản trong buổi đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt*

ĐẶT VẤN ĐỀ

So với các nước trong khu vực, người Hoa di cư sang Việt Nam từ khá sớm. Không kể binh lính và các đội quân, việc người Hoa di cư vào Việt Nam rồi định cư ở đây thường diễn ra phổ biến từ sau các cuộc nội chiến ở Trung Quốc[1]. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền Bắc - Trung - Nam Việt Nam. Trong khoảng thời gian từ thế kỉ XVII đến XIX, những thương buôn và đội ngũ quan quân thất bại trong phong trào “Phản Thanh phục Minh” chạy đến Đàng Trong xin yết kiến chúa Nguyễn và xin tỵ nạn. Chúa Nguyễn đã dùng họ đi khai phá các vùng đất mới ở Nam Bộ. Trải qua quá trình sinh sống, họ đã lập nên những làng, những phố của mình; hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt.

TRẦN ĐÌNH HƯỢU (1927-1995)

 Phong trào Đông kinh nghĩa thục, đúng như các cụ lúc ấy hình dung là  “một trận gió”, “một đợt sóng”từ nước ngoài tràn vào, lôi cuốn cả nước như một ngọn thủy triều khí thế ngất trời: chống vua quan, tư sản hóa theo Âu Mỹ, hợp đoàn, học nghề, cải cách dân chủ... Đứng đầu phong trào là các nhà khoa bảng lớn, và phong trào lan rộng từ Bắc chí Nam, khuấy động cả rất nhiều vùng nông thôn hẻo lánh, chưa có mầm mống gì của kinh tể và xã hội tư sản.

Một nhân vật không trực tiếp thành lập Đông kinh nghĩa thục, không chi phối toàn bộ tư tưởng và hoạt động của Đông kinh nghĩa thục, nhưng rất cỏ uy tín và lại tiêu biểu cho vận mệnh của phong trào Đông kinh nghĩa thục là Phan Châu Trinh.

Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn về tiếng Việt dùng trong Kinh Lạy Cha (KLC) qua các văn bản từ thời bình minh của chữ quốc ngữ. Tiếp theo bài viết `5A, bài 5B sẽ ghi nhận thêm các dữ kiện nhìn KLC từ các lăng kính khác nhau, hi vọng người đọc sẽ thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn.

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

Hồng Thanh Quang: Với tư cách của một người từng đi du học tại một số trường đại học danh tiếng ở nước ngoài, và cũng là một chuyên gia hàng đầu về luật pháp, anh có thể nói gì một cách chung nhất về ý thức tuân thủ pháp luật của người Việt Nam ta?

Nguyễn Ngọc Dung*

Chủ nghĩa Marx là hệ thống những luận điểm và học thuyết về triết học, kinh tế - chính trị và chủ nghĩa xã hội. Như Lenin - người tiếp tục phát triển chủ nghĩa Marx về sau - đã xác nhận: “Nó [tức chủ nghĩa Marx - NND] là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp” (V.I Lenin, 1980, tr.50).

*     Phó giáo sư, Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG-HCM.

Nguyễn Đức Mậu*

Nguyễn Trường Tộ đặt ra hàng loạt vấn đề để cải cách, mỗi vấn đề như vậy thường xuất phát từ mong muốn bảo vệ, phát triển đất nước. Trong các cải cách đó, có việc vì hướng đến như một cần kíp để đối phó kịp thời nguy cơ mất nước, có việc hướng đến lâu dài, có việc nếu muốn thực hiện thì phải giải phóng khỏi quan niệm, thói quen, cách nghĩ hay phải nhìn nhận lại sự kháng cự lại của những cái đó.

*     Tiến sĩ, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.