FLIER A JA(*), LÊ SƠN dịch

 

FLIER A JA. Prinadlezhit li kultura tolko cheloveku?. ONS. No3, 2006, st.155-161. | Thông tin Khoa học xã hội, số 4-2007.

 Từ gốc Latinh “kultura” (cultura - canh tác, cày bừa, chăm bón, trồng trọt, làm ruộng), như mọi người đều biết, có xuất xứ từ nông nghiệp. Thuật ngữ Hy Lạp ở thời kỳ cổ nhất “paideija” có nghĩa chính là văn hoá theo cách hiểu gần như hiện nay, nói một cách chính xác hơn, đã biểu thị nền văn minh Hy Lạp bằng cách nhấn mạnh sự khác biệt của nó với thời đại dã man (barbarie). Theo mức độ phát triển của La Mã và sự giao lưu của nó với người Hy Lạp, thuật ngữ địa phương “kultura” cũng làm thay đổi phạm vi áp dụng nó và chủ yếu được sử dụng để nhận xét về con người con người được giáo dục, con người có học thức, con người am hiểu các truyền thống, phong tục, tập quán địa phương.

TRẦN NGHĨA

Thuyết Hán Nôm Việt Nam, như chúng ta biết, rất phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại. Có khoảng 40 tác phẩm viết bằng chữ Hán hoặc Hán - Nôm hỗn hợp(1) và chừng 50 tác phẩm nữa viết bằng chữ Nôm(2). Tiểu thuyết chữ Hán thường dùng văn ngôn (văn ngôn văn) hoặc nửa văn ngôn nửa bạch thoại (bán văn bán bạch), bao gồm tiểu thuyết bút ký, tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết công án, tiểu thuyết diễm tình và các loại du ký (công du). Tiểu thuyết chữ Nôm thường dùng văn vần, chủ yếu là thơ lục bát hay Đường luật, phần lớn thuộc loại truyền kỳ hoặc diễm tình.

TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG*

Trước khi chữ Quốc ngữ ra đời ở Việt Nam, người Việt sử dụng chữ Hán và chữ Nôm làm công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và văn hóa. Chữ Hán là thứ chữ tượng hình, tượng ý thuộc loại khối chữ vuông, chữ Nôm là chữ Hán - Việt (dùng chữ Hán để biểu hiện âm Việt). Tuy nhiên, hai văn tự đều khó học, khó nhớ, khó tiếp cận đối với tầng lớp nhân dân lao động.

HENRIK SYSE(*)

ĐINH HỒNG PHÚC dịch

 Thật thú vị khi thấy có bao nhiêu là đài phát thanh tiếp sóng thời sự và phát thanh viên đòi hỏi phải có những góc nhìn và những hiểu biết sáng suốt những ngày này từ cái mà chúng ta thường hay gọi là viễn tượng triết học (philosophical perspective). Khi chúng ta đối mặt với đại dịch COVID-19,tôi là một trong những người được hỏi, và tôi cố gắng góp phần đáp ứng yêu cầu này.

Minh Thi

Bài viết này bàn luận hai nhân tố cơ bản khả dĩ giải thích cho những thành công vừa qua của điện ảnh châu Á, tập trung vào trường hợp hai bộ phim Parasite và The Farewell: sự kết hợp giữa câu chuyện mang tính toàn cầu và tính dị biệt Á đông, cùng thông điệp chính trị rút ra từ những thành công mới này.

Nguyễn Bá Long*

Nằm ở eo biển Tây - Nam tận cùng Tổ quốc, từ vùng đất hoang vu, kể từ khi Mạc Cửu (1655-1735) đến đây khai ấp lập trấn (1708), trải qua hơn ba thế kỷ, bằng mồ hôi và xương máu của bao thế hệ cư dân mở mang - gìn giữ, Hà Tiên trở thành miền biên ải trù phú, sơn thủy hữu tình - xứ sở của thơ ca nhạc họa, nức tiếng một thời với Tao đàn Chiêu Anh Các. Tìm hiểu đời sống cư dân nơi đây qua kiến trúc nhà ở và các công trình tôn giáo - tín ngưỡng, chúng tôi thấy đã có sự giao lưu, hòa hợp văn hóa của ba dân tộc Việt - Hoa - Khmer.

Bùi Minh Hào

  1. Khái niệm Vốn văn hóa (Cultural Capital) là một trong số những khái niệm về vốn được nhà xã hội học nổi tiếng Pháp – Pierre Bourdieu[1] xây dựng và vận dụng trong các công trình nghiên cứu về xã hội học của ông. Trong quá trình nghiên cứu, Bourdieu đã sử dụng nhiều khái niệm vốn, trong đó chủ yếu là vốn kinh tế (Economic Capital), vốn xã hội (Social Capital), vốn văn hóa (Culture Capital) và vốn biểu tượng (Symbolic Capital).

Le Tu Anh*

  1. Mở đầu

Trong các nguy cơ đưa tới khủng hoảng sinh thái, chiến tranh là thứ không gì khủng khiếp hơn. Chiến tranh vừa phá vỡ/hủy diệt sinh thái tự nhiên, vừa gây nên những sang chấn tinh thần ghê gớm và để lại di chứng nặng nề. Không chỉ trong đời sống lịch sử, xã hội mà trong văn học, vấn đề này cũng đã được thể hiện rất rõ.