Tác giả: Đào Tiến Thi

Như chúng ta biết, chữ Quốc ngữ ra đời từ thế kỷ XVII. Ban đầu nó chỉ dùng để truyền đạo trong nhà thờ Thiên chúa giáo, mãi về sau, khoảng gần 30 năm cuối thế kỷ XIX, nó được một số nhà văn Nam Kỳ dùng để viết truyện. Nhưng trong gần 30 năm đó, chữ Quốc ngữ cũng hầu như chỉ sử dụng trong phạm vi Nam Kỳ, không ảnh hưởng ra toàn quốc. Ngoài việc do Nam Kỳ còn là một vùng dân cư thưa thớt, văn hoá chưa có bề dày, thì theo chúng tôi, có nguyên nhân quan trọng hơn: giới trí thức cả nước nói chung chưa có ý thức cải cách xã hội nên chưa nghĩ đến công cụ này.

Nguyễn Cảnh Bình

Có thể nói, ở hai ông Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát). Có rất nhiều sự tương đồng về thời đại, về đất nước, về tình hình thế giới bởi cả hai sống cùng trong một giai đoạn lịch sử. Từ thực tế trên, việc so sánh hai nhân vật lịch sử này, đồng thời cũng là những nhà tư tưởng về cải cách, mở cửa có thể mang lại cho chúng ta nhiều điều thú vị.

Tác giả: Momoki Shiro

Theo xu hướng toàn cầu hóa từ cuối thế kỷ XX, phương pháp luận sử học trên thế giới cũng có những chuyển biến lớn, trong đó có sự phát triển của phương pháp luận sử học toàn cầu (global history) [1]. Trong loạt bài về vấn đề này, GS Momoki Shiro, Đại học Quốc gia Osaka, Nhật Bản giới thiệu về phương pháp luận lịch sử toàn cầu, những ảnh hưởng và vai trò của nó trong việc phân tích lịch sử cổ trung đại Việt Nam.

Đặng Thị Vân Chi dịch

Nguồn: Văn hóa Nghệ An

Bối cảnh lý thuyết và Tiểu sử chi tiết

Benedict Anderson là tác giả của một trong những khái niệm quan trọng nhất về địa chính trị, về các dân tộc là “những cộng đồng tưởng tượng”. Ông cũng là hội viên của hội Guggenheim và là thành viên của Học viện Mỹ thuật và Khoa họcM.Anderson sinh ra tại Côn Minh, Trung Quốc vào năm 1936. Ông là anh trai của nhà lý luận chính trị Perry Anderson và một công dân Ai Len, cha ông là một quan chức Hải quan của Hoàng gia, ông đã lớn lên ở California và Ireland trước khi vào Đại học Cambridge.

Tác giả: Trần Nam Tiến

Thông qua vấn đề “sắc phong, triều cống” trong lịch sử, chúng ta có thể thấy rõ văn hóa ứng xử của Việt Nam đối với người láng giềng khổng lồ Trung Hoa.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ngoại giao được xem là một lĩnh vực quan trọng. Qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta có thể nhận thấy hoạt động ngoại giao Việt Nam đã phản ánh nhiều nét đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc; trong quan hệ với các nước, ngoại giao Việt Nam cũng đã góp phần quan trọng không chỉ đối với việc bảo tồn mà còn góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc trong việc ứng xử và tiếp biến các giá trị văn hóa của các dân tộc khác.

Lê Quỳnh dịch
 
Li Tana sinh năm 1953, tốt nghiệp cao học về lịch sử Việt Nam ở Đại học Bắc Kinh (1983), trình luận án tiến sĩ về lịch sử Đàng Trong thế kỷ 17 và 18 tại Đại học Quốc gia Úc năm 1992. Hiện bà Li Tana công tác ở Trường Nghiên cứu Châu Á và Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Úc. 
Quyển sách của bà, Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, đã được dịch sang tiếng Việt và do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1999. 
Bài dưới đây viết về vương quốc của họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18, được biết đến với tên gọi Đàng Trong, hay người Phương Tây gọi là Cochinchina.

Nguyễn Đình Phức

Tóm tắt nội dung: Huang Yiqiu (黄轶球Hoàng Dật Cầu 1906-1990), giáo sư, Trưởng khoa Trung văn, Đại học Tế Nam, Trung Quốc, trước nay luôn được xem là người có nhiều đóng góp, đặt nền móng cho ngành nghiên cứu văn học Việt Nam ở Trung Quốc. Thành tựu mà ông đạt được khá phong phú, ví như Khảo luận về điển tịch Việt Nam (1949), Kim Vân Kiều truyện (bản dịch chữ Hán, 1959), Cung oán ngâm khúc (bản dịch chữ Hán), Việt Nam Phật giáo sử lược, Việt Nam Hán thi lược,… Vốn là một Hoa kiều, mẫn tiệp, từng tốt nghiệp tiến sĩ tại Pháp, cho nên ông có khá nhiều mối giao hảo với các trí thức hàng đầu Việt Nam, như Trần Văn Giáp, Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Nam Trân, Phạm Phú Tiết,…

Tác giả: Momoki Shiro

Suốt hơn ba mươi năm nay, tôi say mê nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nhất là giai đoạn Lý-Trần. Nhưng tài liệu nghiên cứu về thời Lý-Trần không thể nói là phong phú. Cho nên, một mặt tôi đã cố gắng đọc lại thật kỹ nguyên văn của các tài liệu quen thuộc (Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, An Nam chí lược…) song song với việc khai thác tài liệu mới (tài liệu khảo cổ và văn khắc cũng như tài liệu nước ngoài, nhất là của Trung Quốc), mặt khác, tôi đã tìm mọi cách học tập và áp dụng những lý luận và tầm nhìn mới như khu vực học và sử học toàn cầu. Dưới đây tôi xin nêu lên một số vấn đề đáng chú ý về lịch sử thời Lý-Trần khi phân tích dưới quan điểm Sử học toàn cầu (như đã giới thiệu trong kỳ trước [Tia Sáng, số 6 năm 2019]).